Để trở thành cộng đoàn và thuộc về Dân Thiên Chúa, và đây chính là sáng kiến từ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Người thực hiện công việc này bằng một Giao Ước: “Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta là những người không phải chỉ thuộc dân Do thái mà còn thuộc các dân ngoại nữa.”(Rm 9, 24). Vì lẽ đó, lời đáp trả đầu tiên của chúng ta là lời đáp trả bằng tình yêu: yêu Thiên Chúa hết tâm hồn và cả trọn thân xác. Tình yêu này được diễn tả qua qua việc phụng tự và cầu nguyện.
Cầu nguyện trên căn bản vẫn là sự gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa như đôi bạn thân tình. Nếu không có việc cầu nguyện cá nhân thì, việc cầu nguyện cộng đoàn có thể sẽ không có ý nghĩa. Chúa Giê-su chính là gương mẫu cầu nguyện cho chúng ta. Người xem việc cầu nguyện vượt trên mọi công viẹc phục vụ khác: “Danh tiếng Người đồn xa và đám đông tuôn đến với Người để nghe Người và được chữa lành, nhưng Người luôn luôn lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện một mình.”(Lc 5, 16-17).
Để trở thành một thành viên mang lại nhiều hoa trái cho cộng đoàn, mỗi người cần theo gương và tuân giữ những gì Chúa Giê-su dạy, cho dù bận rộn cách mấy. “Khi cầu nguyện anh em hãy vào phòng đóng cửa lại và cùng cầu nguyện cùng Cha của anh em là Đấng ngự nơi bí ẩn.”(Mt 6, 6). Vì thế mỗi người tìm cho mình phương pháp cầu nguyện và duy trì nó, đó là một trách nhiệm. Chính trong giây phút cầu nguyện chúng ta tìm thấy nguồn năng lực để gia tăng niềm tin của cộng đoàn khi cầu nguyện chung.
Với tư cách là thành viên của Giáo Hội, chúng ta thuộc về Dân thánh và đón nhận đặc quyền hiện hữu của mình: “Anh em là một dân tộc được tuyển chọn để loan truyền những kỳ công của Chúa.”(1Pr 2, 9). Đây là công việc đầu tiên mà các cộng đoàn tiên khởi đã thực hiện: “Họ ca tụng Thiên Chúa.”(Cv 2, 4-7). Họ cùng nhau ca tụng với tư cách là dân của Thiên Chúa: “Tất cả những kẻ tin đều đồng tâm nhất trí.”(Cv 4, 32). Sự hiệp nhất một trí một lòng này là điều kiện đem lại một giá trị cho việc ca tụng Thiên Chúa của cộng đoàn.
Một vấn đề khác rất đáng quan tâm; đó là, đặc ân về sự trung gian rất công hiệu của lời cầu nguyện. Hãy xem lời hứa của Chúa Giê-su: “Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ.”(Mt 18, 19-20). Điều kiện đã rõ ràng như chính lời hứa, chúng ta phải tập họp lại nhân danh Người, trong sự vâng phục lời Người; lời này hàm ý rằng, chúng ta đã lãnh nhận tình yêu của Người và trao ban tình yêu đó cho nhau cách cụ thể.
Vấn đề này được diễn tả rõ hơn trong (Ga 15, 7-17): “Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì anh em muốn gì anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý....Điều Thầy truyền dạy cho anh em là hãy yêu thương nhau.”. Điều này cho thấy, Thiên Chúa luôn đáp trả lời cầu xin của chúng ta qua Đức Giê-su trong cộng đoàn. Khi tôi nhận ra nhu cầu của anh em như là nghĩa vụ của tôi, tôi có trách nhiệm phải giúp đỡ họ, thì Thiên Chúa sẽ hành động như lời đã hứa. Thiên Chúa không hiện diện trong bất kỳ một tập thể nào chỉ đơn thuần nói về tình yêu mà không hề thực hành tình yêu. Nhìn kinh nghiệm của thánh Phao-lô khi đối diện với khó khăn, chúng ta sẽ hiểu hơn giá trị trung gian của lời cầu nguyện: “Thưa anh em, vì Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, và vì tình yêu của Chúa Thánh Thần, tôi xin anh em hãy nâng đỡ tôi trong những cơn gian nguy bằng cách cầu xin Thiên Chúa cho tôi.”(Rm 15, 30).
Lời cầu nguyện của cộng đoàn có thể là chính thức hay không, theo phụng vụ hay tự phát. Hành động thờ phượng quan trọng và chính thức là Thánh Thể và lời cầu nguyện chính thống của Giáo Hội. Khi những việc phụng tự này phát xuất từ kinh nghiệm đức tin của chúng ta thì đó là lời cầu nguyện có giá trị hơn. “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền Chúa đã chịu chết.”(1Cr 11, 26; x. 1Cr 10, 16-17). Ý thức sự cao trọng của Thánh Thể, nên chỉ có cộng đoàn hợp nhất mới có thể tham dự, như Chúa Giê-su dạy: “Vậy, nếu khi anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em khác đang có chuyện bất bình với anh em, thì hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.”(Mt 5, 23-24).
Dẫu biết các nghi thức của phụng vụ và các việc cầu nguyện chính thức là rất cần thiết. Tuy nhiên chúng ta dễ rơi vào hành động theo thói quen cách đơn thuần, mà không còn chú trọng đến ý nghĩa của việc phụng tự. Vì vậy việc cầu nguyện tự phát bảo vệ chúng ta khỏi rơi vào tình trạng đơn điệu nguy hiểm này; vì chúng không dựa vào một công thức hay từ sự hướng dẫn sách vở nào cả. Trong cầu nguyện tự phát, chúng ta có cơ hội để chia sẻ những ân huệ thiêng liêng đang tồn tại trong cộng đoàn, như: ơn nói tiên tri, ơn giải thích, ơn phân định...(x.1Cr 14, 26). Việc cầu nguyện này thường được diễn ra trong các cuộc tập họp để cầu nguyện và chia sẻ Lời Chúa.
Chúng ta còn thấy có những việc cầu nguyện, dành cho những công việc hay một nhu cầu đặc biệt nào đó, dành cho cá nhân hay cho cộng đoàn. Ví dụ cầu nguyện để tìm người thay thế cho Giu-đa và nhóm Tông đồ. (x.Cv 1, 24-26); hay cầu nguyện chọn người cho sứ vụ đặc biệt.(x. Cv 13, 2)
Vài gợi ý:
1/ Sứ vụ bạn đang nhận có ảnh hưởng đến đời sống cầu nguyện của bạn không ?
2/ Bạn có thấy một thành viên nào trong cộng đoàn làm việc quá mức, đến độ không còn có thời gian cho việc cầu nguyện riêng không?
3/ Bạn có nghĩ rằng, có môt cách nào đó để cải tiến đời sống cầu nguyện của cộng đoàn không?
Lm Paul.