Cho đến khi chúng ta đạt đến cộng đoàn vĩnh cửu với Thiên Chúa thì, hiện tại chúng ta luôn là những khách lữ hành đang tiến về quê trời. Trong hành trình này, thánh Phao-lô đã nhắc nhở: “Mỗi người phải mang lấy gánh nặng của riêng mình.”(Gl 6, 5). Gánh nặng đó là sự ích kỷ và tội lỗi của bản thân, là những nỗi sợ hãi, là thiếu niềm tin, là hy vọng mong manh, là bệnh tật, là những hoài bão bị bóp nghẹt, là giấc mơ tan vỡ...còn nhiều thứ khác, tất cả đều là những gánh nặng của riêng mình.

Isaia đã loan báo về Chúa Giê-su, là Người sẽ mang gánh nặng của ta: “Chính Người đã mang đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta.”(Is 54, 4). Thánh Phao-lô cho biết là, trong thân xác phục sinh vinh hiển, Chúa Giê-su đã nâng đỡ chúng ta trong những cơn gian nan thử thách.(x.2Cr 1, 3-5). Vì vậy thánh nhân cũng đã khích lệ chúng ta: “Anh em hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật của Đức Ki-tô.”( Gl 6, 2; x.Ep 4, 2).

Lắng nghe với tình yêu:

Chúng ta không thể mang gánh nặng cho nhau, nếu như mỗi người không sẵn sàng trình bày và lắng nghe chân thành khi chia sẻ gánh nặng của mình cho anh chị em. Chia sẻ cho người khác vấn đề lo âu của mình không hề dễ. Bởi họ ngại một khi chia sẻ có được lắng nghe thực sự không, có được cảm thông và còn được quý mến nữa hay không...? Sự chịu đựng đích thực chỉ bắt đầu khi một người có đủ tình yêu để muốn lắng nghe, và dám dành thời gian để lắng nghe bằng cả con tim. Việc lắng nghe phải là thái độ thường xuyên của con tim trước mỗi thành viên cộng đoàn, nếu như họ dám liều để yêu cầu tôi chia sẻ gánh nặng với họ. Vì tự bộc bạch gánh nặng nghĩa là dám liều lĩnh, vì có thể bị hiểu lầm hoặc không còn được yêu thương nữa. Chỉ có sự quan tâm đích thực như Chúa Ki-tô trong tôi, mới có khả năng làm cho anh chị em của tôi dám liều để chia sẻ.

Trong cộng đoàn, tiếng kêu cứu dường như mất hút vào thinh không, bởi không có ai nhận ra hoặc biết lắng nghe. Tiếng kêu cứu có thể biểu lộ qua sự nóng giận, gây hấn, buồn chán, nụ cười ...Trước vấn đề này chúng ta cần nhìn lại bản thân xem: tôi có quá bận rộn để không còn thời gian lắng nghe; tôi có khuynh hướng xác định vấn đề của người khác trước khi tìm hiểu, vì không muốn mất thời gian...? Quả thực đây không là điều bình thường trong cộng đoàn, nếu như tôi có trái tim nhạy cảm, biết nhận ra những dấu hiệu được tỏ lộ để sẵn sàng lắng nghe những gì người khác lo sợ không dám tỏ lộ, vì e sợ người khác phản đối, cả khi họ phải oằn mình gánh nặng quá sức của mình.

Sự khoan dung:

Với trái tim đầy lòng yêu mến, chúng ta sẽ dễ đón nhận các thành viên khác trong cộng đoàn, đón nhận trọn vẹn con người của họ. Nói cách khác, sự khoan dung Ki-tô giáo là một trong những cách thế hiệu quả nhất để lắng nghe, và mang lấy gánh nặng của nhau. Để thực hiện được điều này chúng ta mặc lấy lòng khoan dung của Đức Ki-tô: “Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, giúp cho anh em biết đối xử cách nhân hậu với nhau theo gương Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ đó, anh em có thể hiệp nhất, hiệp ý để đồng thanh tôn vinh Thiên Chúa Cha là thân phụ của Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.” (Rm 15, 5-6)

Cuộc sống hôm nay khi sự thay đổi diễn ra nhanh chóng, con người có khuynh hướng ủng hộ đường lối không thỏa hiệp. Chúng ta phải công nhận thực tế có nhiều sự tương đồng cũng như những bất đồng; nhưng vẫn có thể hiệp nhất một lòng một trí để dâng lên Thiên Chúa lời tôn vinh. Đôi khi chúng ta thường lầm lẫn giữa hiệp nhất với đồng bộ. Thánh Phao-lô đã nhắc nhở chúng ta: “Người thì cho rằng: ngày này trọng hơn ngày khác; kẻ thì lại nghĩ: ngày nào cũng như nhau. Trong thâm tâm, mỗi người phải có xác tín. Ai để ý đến ngày này ngày nọ, thì làm thế để kính Chúa. Người ăn, thì vì Chúa mà ăn, bởi lẽ họ tạ ơn Thiên Chúa. Còn người không ăn, thì không ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Thiên Chúa...”(Rm 14, 5-6)

Sự tha thứ:

Đọc lịch sử dân Israel ta thấy họ là dân luôn phản nghịch hay chống đối, nhưng Thiên Chúa luôn trung tín với Giao ước đã chọn (cả với Giáo Hội) và luôn tha thứ. Việc tha thứ này cho thấy Thiên Chúa đang mang gánh nặng của chúng ta. Người không ngừng tái lập Giao ước để qua đó cho chúng ta niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, nên Người không ngừng mang lấy gánh nặng của những kẻ được Người yêu thương.

“Dù cho ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào từ bỏ chính mình.”(2Tm 2, 13). Vì vậy, nhờ việc tuân giữ Lời Chúa, chúng ta mang lấy gánh nặng của nhau như Chúa Giê-su đã dạy: “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em.” (Lc 6, 26-27).

Sự đón nhận:

Không phải cùng một lúc, mọi người đều có cùng niềm tin như nhau. Nếu thiếu sự quan tâm, chúng ta có khuynh hướng khước từ những người yếu kém niềm tin hơn ta. Có người đối với người khác thường tỏ ra dè dặt và thận trọng; trong những trường hợp này chúng ta cần mang lấy gánh nặng của nhau: “Anh em hãy đón nhận người yếu đức tin và đừng tranh luận với họ. Có người tin mình ăn được mọi thứ, có người vì đau yếu chỉ ăn rau. Người ăn đừng khinh rẻ người không ăn, còn kẻ không ăn cũng đừng xét đoán người ăn, vì Thiên Chúa đã đón nhận người ấy.”(Rm 14, 1-3)

Có nhiều gánh nặng không dễ gì nhìn thấy. Vì thế, để có thể chia sẻ gánh nặng với những người ấy, chúng ta cần lắng biết lắng nghe với sự quan tâm của con tim. “Không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đề lo lắng cho nhau. Nếu bộ phận nào đau thì mọi bộ phận cùng đau.” (1Cr 12, 25-26).

Sự nâng đỡ:

Nhìn vào trong thế giới (cộng đoàn), ta thấy có khuynh hướng chèn ép những người yếu đuối. Vì vậy hãy hết sức thận trọng để loại trừ lối sống này ra khỏi cộng đoàn. “Thưa anh em, chúng tôi khuyên nhủ anh em: hãy khuyên bảo người vô kỷ luật, khích lệ kẻ nhút nhát, nâng đỡ người yếu đuối và kiên nhẫn với mọi người.”(1Tx 5, 14)

Chỉ khi nào chúng ta nói với mọi người trong anh chị em mình những gì Chúa Giê-su đã nói với chúng ta: “Hãy đến với tôi hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng nề, tôi sẽ cho nghỉ ngơi lại sức.”(Mt 11, 28); lúc đó chúng ta mới hoàn toan trung thành với đời sống cộng đoàn.

 

Vài gợi ý:

1/ Trong hiện tại điều gì là gánh nặng nhất của bạn ? Nếu có, xin cho biết bạn đang cảm thấy thế nào ?

2/ Bạn cảm thấy có người nào trong cộng đoàn đang có gánh nặng cần được giúp đỡ, và bạn đang sẵn sàng chia sẻ với họ ? Hãy đến nói chuyện với người ấy.

3/ bạn có nỗi sợ hãi nào về tương lai của chính mình mà bạn muốn chia sẻ?

 

Tình yêu Ki-tô giáo không đơn thuần là một ước muốn, không chỉ là lời cầu nguyện và càng không phải là tình cảm. Vì ước muốn thì dễ dàng, cầu nguyện cũng không quá khó, và cảm xúc cũng không hoàn toàn dưới sự điều khiển của chúng ta. Tình yêu Ki-tô giáo phải trong ý thức và được sự điều khiển bởi ý muốn của chúng ta, là những người có đức tin. Tình yêu được biểu lộ cách cụ thể sống động, như thánh Gia-cô-bê nói rõ ràng: “Nếu như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm, ăn cho no; nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích gì?’”(Gc 2, 15-16). Nếu sự quan tâm của các tín hữu không dẫn đến việc chia sẻ cách cụ thể theo tinh thần Ki-tô giáo, thì chỉ là giả tạo.

Thiên Chúa đã chia sẻ:

Thiên Chúa là khuôn mẫu cho chúng ta về sự chia sẻ này: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã Con Một của Người cho thế gian.” (Ga 3, 16). Đây chính là quà tặng quý giá thân thương nhất Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại: “Con của Người...Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa.”(Dt 1, 3). Thiên Chúa vì yêu thương, đã trao ban bản thể, chia sẻ đời sống nội tại của chính Người, khi ban Lời Người cho chúng ta qua Đức Giê-su. (x.Ga 1, 18). Đây chính là điều tối ưu trong sự tin tưởng chia sẻ, và là mẫu mực cho đời sống cộng đoàn để tràn đầy tin tưởng người khác, hầu có thể chia sẻ cho họ những gì sâu kín nhất trong tâm hồn chúng ta vì lợi ích cho anh chị em mình.

Đức Ki-tô đã chia sẻ:

Đến lượt Chúa Giê-su, Người cũng đã chia sẻ cho chúng ta tất cả những gì Người có. Thánh thi Philipphe cung cấp cho chúng ta sự trao ban tuyệt vời của Chúa Giê-su: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân.” (Pl 2, 6-7).

Để trở nên một thành viên trong cộng đồng nhân loại, Chúa Giê-su đã tự chia sẻ chính Người và trao ban cho chúng ta một mẫu mực và sức mạnh để chúng ta chia sẻ chính mình cho người khác theo cách giống như Người. (x.Ga 1, 14). Là thành viên trong một cộng đoàn cụ thể, mỗi người phải ‘cắm lều’ trong chính cộng đoàn của mình, giữa anh chị em mình.

Một tình bạn chân thực luôn luôn là một tương quan chia sẻ, và đó chính là những gì Thiên Chúa trao ban cho chúng ta trong Đức Giê-su. Không có gì được giấu kín, tất cả đều được mặc khải trong sự tin tưởng, ngay cả khi Người biết rằng sự tin tưởng này có thể không luôn được chúng ta tôn trọng: “Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15, 15). Và Người đã bày tỏ với Chúa Cha: “Con đã làm cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa.”(Ga 17, 26). Đó là lý do để chúng ta  có thể nói về Thiên Chúa: “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác,”(Ga 1, 16). Thiên Chúa chia sẻ, vì Người quan tâm đến chúng ta, và đây chính là động lực thúc đẩy chúng ta quan tâm chia sẻ cho nhau.

Thực hiện việc chia sẻ:

Điều tối thiểu nhất chúng ta có thể chia sẻ đó là vật chất, noi theo gương cộng đoàn tiên khởi: “Tất cả những tín hữu đều hợp nhất một lòng, một trí, không ai lấy cái gì mình có làm của riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung.”(Cv 4, 32). Kế đến chúng ta có thể chia sẻ thời gian để gặp gỡ, thăm hỏi, an ủi...; đặc biệt với những anh chị em đang bị giam cầm trong nỗi đau nào đó, đang cần sự cảm thông.(x.Mt 25 35-36). Chúng ta cũng chia sẻ những khả năng tri thức, tài năng thiên phú, hay những khả năng nào đó Chúa đã ban cho ta. Cả đến nhưng ân huệ thần linh chúng ta cũng phải chia sẻ, như thánh Phao-lô cho biết: “Tôi rất ao ước được gặp anh em để chia sẻ với anh em những ân huệ của Thánh Thần, nhờ đó anh em được vững mạnh.”(Rm 1, 11-12).

Việc chia sẻ chân thành là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên lắm khi việc chia sẻ trong cộng đoàn, làm cho chúng ta có nguy cơ bị hiểu lầm chống đối và bị xúc phạm. Nhưng khi có tình yêu trong cộng đoàn, thì tình yêu này sẽ là linh dược chữa lành những vết thương của mọi thành viên. Khi có một nỗi đau được bộc bạch và được đáp lại bằng tình yêu và sự cảm thông của cộng đoàn hay của một thành viên, thì vết thương ấy sẽ được chữa lành và sự hòa điệu  trong tình yêu sẽ được phục hồi nhờ chia sẻ.

Cuối cùng chúng ta có thể chia sẻ về cái ‘tôi’ sâu xa của mình, trong đó: thất bại hay thành công, thất vọng hay hy vọng, chán chường hay vui thích, sợ hãi hay can đảm... Tất cả những điều ấy, nếu như chúng ta nhận ra đó thánh ý Chúa, là dấu hiệu của tình yêu và ân sủng, là sự thiện hảo của Chúa dành cho cuộc đời chúng ta. Điều này như là dấu chứng mang hiệu quả tăng trưởng niềm tin cho cá nhân và cộng đoàn, tạo nên sự liên kết được xây dựng từ niềm tin vào nhau.

Cuối cùng, chúng ta hãy nghe Chúa Giê-su nói với chúng ta về việc chia sẻ: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người ta sẽ đong cho anh em đấu đã dằn đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì sẽ được đong trở lại bằng đấu ấy.”(Lc 6, 38). Nên nhớ, tất cả nhu cầu của sâu xa nhất của chúng ta đó là, tâm linh và tình cảm chứ không phải là vật chất. Chỉ khi nào tôi có thể nói với anh chị em mình, bằng những lời của người Cha đã nói với tôi: “Tất cả những gì của Cha có đều là của con.” (Lc 15, 31), lúc đó cộng đoàn mới thực sự dành cho tôi.

 

Vài gợi ý:

1/ Bạn có cảm thấy thỏa mãn ở mức độ bạn chia sẻ về đời sống của bạn cho người khác trong cộng đoàn này không ? Tại sao ?

2/ Thuật lại lần đầu tiên bạn kinh nghiệm cách có ý thức một người đã chia sẻ với bạn ở mức độ chân thành. Bạn cảm thấy thế nào ?

3/ Có lần nào bạn cảm thấy bị giam cầm bởi chính nỗi sợ hãi của bạn không ? Bạn có thể chia sẻ điều này không ?

Đã có một ai đến chia sẻ gánh nặng của bạn chưa ?

Lm. Paul

Sự sống còn của một cộng đoàn chủ yếu phụ thuộc và hai yếu tố sau: Thứ nhất, phụ thuộc vào mỗi cá nhân trong cộng đoàn có cùng mục đích hay không? Thứ hai, phụ thuộc vào mức độ sâu xa mà họ chia sẻ mục đích ấy. Đây chính là chất liệu tạo nên sự liên kết của cộng đoàn, kết dính họ lại với nhau. Theo lẽ tự nhiên, con người tìm đến những tập thể có cùng mục đích. Khi những mục đích được chia sẻ cách sâu xa, thì con người sẽ vẫn còn liên kết với nhau; ngược lại sẽ tan rã.

Sự băng hoại của các cộng đoàn hiện tại:

Hiện nay thế giới đang chứng kiến sự tan rã của nhiều tập thể, nhiều cộng đoàn mà vốn được xem là liên kết với nhau chặt chẽ. Ví dụ hôn nhân gia đình ta vỡ, các đảng phái chính trị chia rẽ; và thậm chí trong Giáo Hội vốn nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất thì, có những Giáo Hội địa phương đang đòi hỏi quyền tự trị nhiều hơn.

Khuynh hướng cá nhân của con người thời đại này, đã thúc họ tìm kiếm sự thỏa mãn cho những mục đích riêng tư của mình. Họ sẽ không bằng lòng ở lại trong một tập thể khi sự thỏa mãn ấy xem ra không còn khả năng đạt được. Trong quá khứ, con người thường ở lại trong tập thể, ngay khi sự thỏa mãn cho những mục đích cá nhân không hề tìm thấy; và cả khi có những lựa chọn khác đang có sẵn, đang hấp dẫn họ. Bởi trong quá khứ, sức ép của xã hội, biện pháp chế tài của tôn giáo, hoặc thiếu sự chọn lựa đã giữ con người ở lại với nhau cách hữu hiệu hơn ngày nay.

Nhu cầu của con người là cộng đoàn:

Trong tất cả các vấn đề, thì việc đụng chạm đến nhu cầu sâu xa nhất của con người, được xem là vấn đề thiết thực nhất. Nhu cầu sâu xa của một con người là để yêu thương và được yêu thương, để hiểu biết và được hiểu biết. Do đó khi có một thành viên muốn rời khỏi cộng đoàn (tập thể), là khi cộng đoàn ấy không thể đáp ứng nhu cầu này. Trong một số trường hợp, người ấy không thể ra đi vì sợ hãi. Vì không có khả năng để thích nghi với những hoàn cảnh mới, hay có lỗi lầm nào đó; nhưng trong thâm tâm họ rất muốn rời khỏi cộng đoàn. Người ấy bị một mãnh lực lôi kéo đến những nơi mà họ cảm thấy có thể được yêu thương, có thể được hiểu biết và thông cảm.

Tình yêu trong cộng đoàn:

Con người là hình ảnh của vị Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì lẽ đó, tình yêu chính là nhu cầu cao quý mà Thiên Chúa đã đặt để trong mỗi người. Trong chính nhu cầu này, Thiên Chúa xây dựng dân của Người thành một cộng đoàn. Vì vậy, một cộng đoàn Ki-tô hữu đích thực không phụ thuộc vào một dự án chung, hay vào sự gần gũi về thể lý của các thành viên; nhưng là, được xây dựng và nuôi dưỡng bằng chính tình yêu của Thiên Chúa trong trái tim mỗi người. Giới luật Chúa Giê-su đưa ra cho thấy tầm quan trọng của tình yêu trong cộng đoàn: “ Thầy ban cho các con một điều răn mới; là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con, vậy các con hãy yêu thương nhau.” (Ga 13, 34).

Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng, chính tình yêu của Đức Ki-tô trong và qua chúng ta, để giúp chúng ta có khả năng yêu thương với tinh thần siêu nhiên: “Tình yêu của Thiên  Chúa đã đổ tràn tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta.”(Rm 5, 5). Thánh Phao-lô còn nhấn mạnh hơn, khi nói: “Nguyện xin Thiên Chúa làm cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy.” (1Tx 3, 12).

Trong tình yêu của Chúa Giê-su, chúng ta học cung cách khiêm tốn nhằm phục vụ nhau: “Nếu thầy là thầy và là Chúa mà còn rửa chân cho các con, các con cũng phải rửa chân cho nhau.”(Ga 13, 14-15). Điều này mời gọi mỗi người tiếp nối việc rửa chân trong cộng đoàn mình đang sống bằng sự quan tâm đầy lòng mến.

Sự quan tâm chân thực:

Thiên Chúa không bằng lòng với chúng ta khi hành xử với nhau bằng một tình yêu hình thức hay xã giao. Người chờ đợi chúng ta có thái độ quan tâm trong chính trái tim chân thành của mỗi người. Thánh Phê-rô nhắc nhở, tình yêu này chỉ được trọn vẹn khi mỗi người vâng phục chân lý Lời Chúa: “Nhờ vâng phục sự thật, anh em đã được thanh luyện tâm hồn để thực thi tình huynh đệ chân thành. Anh em hãy tha thiết yêu mến nhau với tất cả tâm hồn. Vì anh em được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mãi mãi.”(1Pr 1,22-23). Thánh Phao-lô đã diễn tả bản chất sâu xa của tình yêu này: “Lòng bác ái của anh em không được giả hình. Hãy chân thành yêu thích điều lành và chê ghét điều dữ, anh em hãy yêu mến nhau trọn tâm hồn.... tôn trọng sâu xa đối với nhau.”(Rm 12, 9-10)

Bản chất của cộng đoàn không chỉ là : lời tuyên xưng cùng một đức tin, cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng làm chung công việc, cùng cầu nguyện chung, ăn chung...tình yêu không phát xuất từ việc thực hành những nhân đức khác của cộng đoàn; nhưng hơn thế nữa, tất cả đều phải xuất từ tình yêu chân thành. Để rõ điều này hơn, chúng ta hãy đọc qua ‘ bài ca đức ái’ (x 1Cr 12, 31-13, 1-8a.13). Và một tình yêu viên mãn như Chúa Giê-su đã nói: “Con đã yêu chúng như Cha đã yêu con.”(Ga 17,23)

Vài gợi ý:

1/ Bạn nghĩ thế nào về hôm nay, có những anh chị em đang tìm cách rời khỏi cộng đoàn ?

2/ Bạn cảm thấy thế nào về những người đang kinh nghiệm sự cô độc trong cộng đoàn đời tu ?

3/ Bạn có cảm thấy không muốn gặp gỡ cộng đoàn trong một vài lần nào đó, và bằng cách nào ?

Lm Paul.

Trước hết cần xác định: không có một cộng đoàn nào là hoàn hảo theo đúng nghĩa của từ hoàn hảo cả. Thực tế của một cộng đoàn hoàn hảo là hướng về, để mỗi thành viên cùng chung tay xây dựng, nhằm tạo nên một cộng đoàn hoàn hảo mang lại bình an và thiện hảo cho các thành viên.

Chúng ta thấy có rất nhiều mô hình về đời sống cộng đoàn. Tuy nhiên, mô hình của đời sống thánh hiến có hai chiều kích, mà các tập thể xã hội khác thiếu vắng, đó là: tình yêu và sự tin tưởng. Hai yếu tố này chính là nền tảng cho sự giao tiếp ở mức độ sâu xa; và làm cho một cơ chế điều hành mang tính chất Ki-tô giáo, và khác xa mọi mô hình của các cộng đoàn khác. Trong cộng đoàn này, mỗi người cần: quan tâm, chia sẻ, chịu đựng, phục tùng lẫn nhau và phục vụ Nước Trời trong chính họ và trong thế giới. Qua lăng kính và ngôn ngữ nhân loại, ta thấy Cộng Đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa, đã thực sự nên ‘Một’ trong cộng đoàn luôn quan tâm đến nhau, chia sẻ cho nhau, san sẻ gánh nặng của nhau, và tùng phục lẫn nhau vì tình yêu. Đó cũng chính là phục vụ thế giới.

Quan tâm:

Sự quan tâm và tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa thì vô hạn. Chúa Giê-su đã nói về tình yêu của Cha Ngài: “Cha đã yêu con trước khi tạo thành vũ trụ.”(Ga 17, 24); và ngược lại: “Để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha.”(Ga 14, 31). Đây chính là lý do tại sao Chúa Giê-su thốt lên rằng: Chúa Cha và Chúa Con đã ‘biết’ nhau cách hoàn hảo. Lưu ý từ ‘Biết’ trong Kinh Thánh có nghĩa là một sự hiểu biết, một kiến thức của con tim, một trái tim thực sự yêu thương và phát xuất bởi sự tự mặc khải đầy tin tưởng hai chiều. Đây chính là yếu tố cần thiết đầu tiên cho cộng đoàn Ki-tô hữu.

 

Chia sẻ:

Sự quan tâm vô hạn sẽ đưa đến việc chia sẻ hoàn toàn cho nhau. Chúa Giê-su đã cầu nguyện cùng Chúa Cha rằng: “Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Con Cha, để Con Cha có thể tôn vinh Cha.” (Ga 17, 1). Ngài khẳng định với chúng ta về sự chia sẻ hoàn toàn này: “Tất cả những gì Con có là của Cha, và tất cả những gì Cha có là của Con.” (Ga 17, 10) Một khi chúng ta có thể nói lên được những lời như thế thì, có lẽ chúng ta đã đạt được ở một mức độ khá hoàn hảo trong đời sống cộng đoàn rồi. Đó chính là thước đo chính xác và có giá trị về phẩm chất của sự quan tâm.

Chịu đựng:

Theo cách con người, chúng ta không thể nói cộng đoàn Ba Ngôi chịu đựng lẫn nhau. Tuy nhiên chúng ta có thể nói, Chúa Giê-su đã mang lấy gánh nặng của Chúa Cha, bằng việc tự gánh lấy mọi tội lỗi và đau khổ của nhân loại, để cứu chuộc họ. Chúa Giê-su đã chia sẻ: “ Sở dĩ Chúa Cha đã yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống tôi, không ai lấy đi được; nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình, đó chính là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.”(Ga 10, 17-18).

Đối lại với sự hiến dâng của Chúa Giê-su, Chúa Cha đã cất Người khỏi gánh nặng của sự chết: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt tên muôn ngàn danh hiệu, vì thế, khi nghe danh Thánh Giê-su, mọi loài trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’.” (Pl 2, 9-11). Vì thế, việc san sẻ gánh nặng cho nhau là yếu tố cần thiết của đời sống cộng đoàn.

Phục tùng:

Chúa Giê-su đã tùng phục thánh ý Cha trong sự tự do hoàn toàn: “Tôi vẫn giữ lệnh truyền của Cha và ở lại trong tình yêu của Người.” (Ga 15, 10). Tương tự, Chúa Cha luôn lắng nghe những lời cầu nguyện của Chúa Giê-su, như Ngài đã thân thưa: “Lạy Cha, Con biết rằng Cha luôn lắng nghe lời con.”(Ga 11, 12).

Phục tùng nhau trong tình yêu là một chiều kích khác của một cộng đoàn Ki-tô hữu đích thực. Việc phục tùng thánh ý Thiên Chúa được khám phá qua cộng đoàn, và được thể hiện qua những người thủ lãnh, là biểu lộ duy nhất của sự tuân phục đối với người Ki-tô hữu trưởng thành.

Phục vụ:

Tất cả những gì mà một cộng đoàn làm, đều là phục vụ Giáo Hội và thế giới. Nhưng việc phục vụ này cần được làm theo khuôn mẫu của cộng đoàn Ba Ngôi đã trao ban cho nhân loại. Tình yêu vô biên và sự thánh thiện của Thiên Chúa được ban cho thế giới qua Đức Giê-su, và hiệu quả qua hoạt động của Chúa Thánh Thần. Chúa Giê-su cho biết: “Tôi đến để cho chúng được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10)

Từ nay, mỗi cộng đoàn Ki-tô hữu tồn tại là để phục vụ con người, nhằm trao ban cho họ một cuộc sống tốt đẹp và sung mãn, dù ở bất cứ hình thức nào thì đó cũng chính là sứ vụ tông đồ. Việc xây dựng một cộng đoàn trở nên hoàn hảo, khi mỗi thành viên chấp nhận chân lý Chúa Giê-su nêu ra: “Tôi ở trong Cha và Cha ở trong tôi.” (Ga 14, 10). Khi ấy kinh nghiệm về sự biến đổi của cộng đoàn mới có thể bắt đầu trong cuộc đời tôi. Chúng ta sẽ tìm hiểu cách chi tiết hơn về năm phương thế ở các bài kế tiếp sau đây.

Vài gợi ý:

1/ Hy vọng sâu xa nhất của bạn là gì nơi cộng đoàn bạn đang sống ?

2/ Bạn cảm thấy có nhu cầu về đời sống cộng đoàn không? Theo cách nào ?

3/ Có lúc nào trong cuộc đời bạn đã kinh nghiệm sâu xa về đời sông chung cộng đoàn ?

Lm Paul

 

1/ Tôi cần người khác:

Tôi không thể học biết yêu thương khi tôi tách rời mọi người; và tôi cũng không thể thành người nếu tôi không có đời sống cộng đoàn.(x.St 2, 18). Nếu không có ai đó, thường là cha mẹ giúp tôi sử dụng ân ban tự do của Thiên Chúa để yêu thương, tôi sẽ không thể trở thành người Ki-tô hữu hôm nay. Nhờ việc sử dụng chính sự tự do để yêu thương tôi, cha mẹ và những người khác đã dạy tôi biết nhận ra sự tự do để yêu thương. Nếu không có một ai đó đã yêu thương tôi, có thể tôi sẽ không bao giờ được lớn lên và trưởng thành như một con người thật sự. Đó là lý do tại sao “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.” (1Ga 4, 19); và chỉ khi đó, Người mới mời gọi chúng ta đáp trả tình yêu ấy. Bây giờ chúng ta đã trở thành con người như hiện nay, là nhờ vào tình thương và ngay cả sự lãnh đạm của biết bao người, đã trải qua trong cuộc đời mình. Càng lãnh nhận tình thương, chúng ta càng tự do để yêu thương chính mình và người khác, và làm cho đời ta phong phú hơn. Một khi không được yêu thương, ta có khuynh hướng co cụm, thậm chí không còn yêu cả bản thân mình.

Chính sự cần thiết của yêu thương mà tôi cần có đời sống cộng đoàn. Nếu không có ai cho tôi tiếp cận nhân vị tính của họ thì, sự tự do để yêu thương trở nên vô nghĩa, và tôi không thể lớn lên trong nhân vị tính của mình. Trong tình yêu liên vị này mà thánh Phao-lô đã tâm sự với dân thành Thesalonica: “Thưa anh em, chúng tôi phải xa cách anh em một thời gian ngắn, xa mặt chứ không cách lòng, chúng tôi càng cố gắng hơn để lại thấy mặt anh em, vì chúng tôi ao ước điều đó. Vì thế, chúng tôi đã cố gắng rất nhiều để đến thăm anh em.” (1Tx 2, 17-18). Và ngài đã nhấn mạnh đến sự cần thiết trong tương quan cộng đoàn: “Chúng ta liên đới với nhau như những bộ phận của một thân thể.” (Rm 12, 5).

2/ Người khác cần tôi:

Người khác cũng cần có tôi. Vì không có tôi và sự thiếu vắng tình yêu của tôi, mỗi người trong họ sẽ thấy giảm thiểu đi sự đáng yêu và sự tự do để yêu thương. Khi tôi yêu người khác là lúc tôi làm cho họ có khả năng để biểu lộ và lớn lên trong chính sự tự do để yêu thương mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Ngược lại, khi tôi từ chối yêu thương, là lúc tôi vô hiệu hóa sự phát triển về nhân vị tính và sự tự do để yêu thương của họ.

Khi tôi đón nhận tình yêu của người khác, chính là lúc tôi giúp đỡ họ lớn lên như một con người và là một Ki-tô hữu thực sự. Và khi tôi từ chối tình yêu của người nào, là tôi đã cô lập họ, cắt đứt mối tương quan cộng đoàn của họ, và làm cho họ không thể phát triển đầy đủ nhân vị tính. Thánh Phao-lô chia sẻ: “Như tôi đã từng nói: anh em hằng ở trong lòng chúng tôi, sống chết chúng ta cần có nhau.”(2Cr 7, 3).

Để phát triển nhân vị, sự tự do để yêu thương của tôi, tôi phải sống trong một cộng đoàn thực sự, với những người cùng lý tưởng, đồng nghiệp nam hay nữ với tôi. Thực tại cộng đoàn không phải là cái gì chúng ta không thể làm được, cũng không phải là đặc quyền – đặc lợi cho một nhóm ưu tuyển nào đó; nhưng nó chính là hơi thở của đời sống và là lương thực để phát triển đối với mỗi người chúng ta.

3/ Kinh nghiệm về Thiên Chúa:

Chúng ta cần có kinh nghiệm về mối liên đới với người khác, để có được kinh nghiệm về Thiên Chúa. Cha Karl Rahner đã nói: “Không có kinh nghiệm về Thiên Chúa thì có thể đã không có khả năng suy tư nhờ vào kinh nghiệm về thế giới...Những gì suy tư, kinh nghiệm về Thiên Chúa chính là mối tương quan giữa con người với nhau. Điều này có nghĩa là mối tương quan của một người  đối với những người khác, phải là một sự tin tưởng vô điều kiện và khách quan, là một sự sẵn sàng tín nhiệm những người chung quanh, để chấp nhận trách nhiệm đối với họ. Nói cách khác, nó phải trở thành một mối quan hệ của tình yêu. Chỉ từ nền tảng này, mới có thể nắm bắt cách có hiệu quả những gì Thiên Chúa muốn nói, và chỉ có thể là người tuân giữ Lời Chúa dạy khi người ấy bắt đầu yêu mến Thiên Chúa.”. Điều này thánh Gioan tông đồ đã nói: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì làm sao có thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng họ không trông thấy.”(1 Ga 4, 20).

Vậy với tư cách là một con người, cộng đoàn không chỉ là sự sống còn về phương diện tâm lý; nhưng chắc chắn đối với chúng ta, đó còn là chính sự sung mãn của đời sống tâm linh, cũng như của đời sống Ki-tô hữu. Nếu tôi không chấp nhận và tín nhiệm cộng đoàn, những anh chị em đang sống với tôi, thì tôi không thể nào có kinh nghiệm về Thiên Chúa.

4/ Tôi là một cá thể độc đáo:

Sự hiện hữu của mỗi người là duy nhất trong tình yêu tác tạo của Thiên Chúa. Bởi vậy chỉ có tôi mới đóng góp phần của mình cho cộng đoàn, và không ai làm thay cho tôi được. Thiên Chúa dựng nên mỗi người khác biệt nhau, có sự độc đáo riêng để mỗi người cần và phụ thuộc lẫn nhau. Thánh Phao-lô cho biết: “Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận thì làm sao trở thành thân thể được? Như thế, tuy có nhiều bộ phận nhưng chỉ là một thân thể. Vậy mắt không thể nói với bàn tay: ‘tôi không cần đến bạn’...Như thế, không có sự chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cũng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cùng vui chung.”(1Cr 12, 19-21.25-26).

4/ Hiện hữu cho người khác:

Để trở thành người, tôi cần hiện diện với và còn cho người khác. Như vậy ý nghĩa của hiện hữu của tôi là để cho; và người khác cũng thế với tôi. Như vậy cộng đoàn nghĩa là có sự tin tưởng vào trách nhiệm cá nhân, để đi vào quan hệ tình yêu với những người khác, nhằm giúp mỗi người phát triển nhân vị của mình. Điều này có nghĩa là bảo tôi chống lại sự co cụm trên chính mình, chống lại mọi ước muốn xây dựng cái tôi của mình, không nghĩ đến yêu thương và muốn sử dụng người khác như công cụ.

Chỉ trong cộng đoàn, tôi mới có thể tự do để yêu thương người khác; là nơi tôi trao ban và lãnh nhận ân huệ thành nhân. Thánh Phao-lô cho biết: “Nếu chúng ta sống trong sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được cấu kết chặt chẽ, dầu mỗi phần đều riêng rẽ nhưng hoạt động theo chức năng của mình. Vì thế, thân thể được lớn lên và được xây dựng vững mạnh trong tình yêu.”     (Ep 4, 15-16).

5/ Đón nhận và biểu lộ nhu cầu của chúng ta:

Có lẽ chúng ta khó lòng bày tỏ nhu cầu tình cảm của mình cho người khác, cho cộng đoàn. Thậm chí chúng ta cũng có thể không chấp nhận nhu cầu sâu xa này trong chính bản thân mình. Thánh Phao-lô là người có tinh thần vững mạnh, ngài đã sẵng lòng đón nhận và bày tỏ nhu cầu của mình cho người khác. Chúng ta hãy đọc một vài tâm sự của ngài:

“Tôi viết cho anh em...để anh em biết rằng tôi hết lòng yêu mến anh em.”(2Cr 2,4); “Hỡi anh em thân mến, lòng tôi hằng tưởng nhớ đến anh em.”(Pl 4, 1); “Nếu Thiên Chúa muốn, tôi sẽ vui mừng đến với anh em và được nghỉ ngơi giữa anh em.”(Rm 15, 32); “Nhớ đến những giọt nước mắt của anh, tôi ao ước gặp lại anh để được chan chứa niềm vui.” (2Tm 1, 4).

Khi tôi có kinh nghiệm và diễn tả tình yêu của tôi đối với anh chị em trong cộng đoàn, khi tôi cảm thấy rằng tôi thuộc về người khác và họ cũng thuộc về tôi; lúc ấy, tôi trở thành một con người, một sự tự do để yêu thương.

Vài gợi ý:

1/ Bằng cách nào bạn cảm thấy được nhu cầu của những người khác nhiều nhất ?

2/ Bạn đã có kinh nghiệm gì về đời sống cộng đoàn Ki-tô hữu, trước khi gia nhập cộng đoàn hiện tại ?

3/ Bạn có thể nhớ lại, một cơ hội khi bạn muốn giúp đỡ người khác, nhưng họ có ý nói: “Tôi không cần đến ban ?”.

Xin cho biết cảm nhận của bạn khi ấy thế nào ?

Lm.Paul