Lời mời gọi của Thiên Chúa đến với chúng ta với tư cách là một dân tộc, một cộng đoàn. Ngoài việc phụng tự, cầu nguyện thì đời sống cộng đoàn được diễn tả qua lời đáp trả chân thành với Giao Ước đó: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15, 12). Điều này mời gọi mỗi thành viên trong cộng đoàn diễn tả trong thái độ cử xử với nhau như thế nào, sao cho thích hợp. Vì là một cộng đoàn, nên có những nguyên tắc được vạch ra, đó là những biểu hiện của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với nhau. Chúng ta có thể ứng dụng nguyên tắc của thánh Phao-lô, nói với dân thành Corintho, về những buổi họp của họ: “Hãy làm mọi sự cách trang nghiêm và có trật tự.” (1Cr 14, 10).
Với lý do trên đây, chúng ta xét đến sự cần thiết và bản chất của những nguyên tắc trong một cộng đoàn. Những nguyên tắc là những điều đã được qui định và được cộng đoàn chấp thuận được viết thành văn, được nói và được mọi người chấp thuận. Nhờ những nguyên tắc này, chúng ta mới lựa chọn đời sống chung, và giúp gặt hái được những hoa trái của đời sống tâm linh và huynh đệ (tỉ muội). Những nguyên tắc này có thể là những qui định, lịch sinh hoạt...đã được cộng đoàn thống nhất.
1.Sự cần thiết:
Vài nguyên tắc rõ ràng sẽ giúp cho cộng đoàn thoải mái hơn, vì nhờ đó họ có khả năng đoán biết trước cách hợp lý những vấn đề, để không cần đưa ra những quyết định mới mỗi ngày. Vế sau của của vấn đề này là nguyên nhân gây ra sự căng thẳng và sự lộn xộn liên chủ thể. Ví dụ như chúng ta cần có quyết định thống nhất với nhau giờ cử hành phụng vụ; hay, ấn định thời gian và tính chất của các buổi hội họp cộng đoàn, sẽ tránh đi nhiều phiền phức không đáng có. Và cả trong các sứ vụ cũng cần có những nguyên tắc được hướng dẫn cuộc sống trong trật tự.
2. Bậc thang giá trị:
Trước khi xác định rõ nguyên tắc, điều cần thiết là xác định bậc thang giá trị. Không có yếu tố này sẽ dẫn đến tình trạng lộn xộn trong chính cơ cấu chúng ta thiết lập để bảo tồn trật tự. Chúng ta hãy nhìn vào bậc thang giá trị của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi sắp xếp: “Họ chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện.” (Cv 2, 42). Và “chúng tôi không thể bỏ việc rao giảng Lời Chúa để lo việc ăn uống.” (Cv 6, 2). Qua trình thuật này, chúng ta thấy các thự tự: đức tin, sự quan tâm lẫn nhau, tham dự lễ bẻ bánh, cầu nguyện, trao ban Lời Chúa và sau cùng là công việc xã hội. Chúng ta cũng hết sức cẩn trọng xem xét kỹ các bậc thang giá trị được thể hiện trong các nguyên tắc chúng ta vạch ra.
3. Đối với mỗi người:
Mỗi thành viên cần nhớ những mục đích trong tất cả các nguyên tắc. Bởi nhờ đó, tình yêu và niềm tin vào Nước Trời mới có thể phát triển trong tâm hồn những người sống trong cũng như ngoài cộng đoàn. “Mỗi ngươi trong chúng ta nên nghĩ về kẻ khác và giúp đỡ họ trở thành những Ki-tô hữu vững mạnh hơn.”(Rm 15, 2)
Gợi ý vài hành động được xem là rất hữu ích như là: dành thời gian để giúp đỡ thành viên khác, tôn trọng cuộc sống riêng tư, hoặc chăm sóc khi có anh chị bệnh tật...Tính chất quan trọng của các công việc này, có thể đòi hỏi mỗi người nhìn vào nguyên tắc chung để đừng có ai bị bỏ rơi, do quá quan tâm đến các việc tông đồ ngoài cộng đoàn. Bất cứ công việc nào làm suy giảm việc xây dựng cộng đoàn, cần được xem xét lại trong tâm tình khiêm tốn cầu nguyện.
4. Được khám phá:
Những nguyên tắc không là ngẫu nhiên hay bị áp đặt từ bên ngoài. Những nguyên tắc này phải được cộng đoàn hiện tại khám phá, thiết lập và gìn giữ những gì thuộc về truyền thống. Dẫu vậy, các nguyên tắc chỉ được thực hiện cách khôn ngoan, sau khi tìm kiếm sự khôn ngoan từ Thiên Chúa. “Xin Thiên Chúa cho anh em am tường thánh ý Người nhờ tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết Thần Khí ban cho. Như vậy anh em sẽ sống được như Chúa đòi hỏi, và làm đẹp lòng Người về mọi phương diện.”(Cl 1, 9.10). Nếu không có sự khôn ngoan của Thần Khí thì, các nguyên tắc chúng ta xây dựng chỉ là: “Những giới luật và giáo huấn của người phàm.” (Cl 2, 22).
5. Tính cách linh động:
Tất cả những nguyên tắc dù được viết ra, thì cũng lưu ý đến việc giải thích một cách linh hoạt của những con người tự do và có trách nhiệm. Bởi thực tế sẽ có những thành viên trong cộng đoàn lạm dụng, giải thích cách cứng ngắt các nguyên tắc, khiến những người có tinh thần trách nhiệm không thể trưởng thành được nhờ những quyết định cá nhân. Sách Công vụ cung cấp cho ta sự phân định khôn ngoan Thiên Chúa, nhằm thích ứng các nguyên tắc cách đa dạng: “Thánh Thần và chúng tôi quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này.”(Cv 15, 28).
Nên nhớ mỗi người hoàn toàn khác biệt và không ngừng lớn lên, vì thế nếu không quá sức chịu đựng thì, việc đưa ra những nguyên tắc thật chi tiết và thiếu linh hoạt là điều thiếu khôn ngoan, ngay cả những nguyên tắc này diễn tả giá trị ưu việt.
6. Có thể thay đổi:
Cần lưu ý là không thể nào có thể thiết lập những nguyên tắc có tính vĩnh viễn cả. Dù những giá trị Ki-tô giáo không thay đổi, thì con người và hoàn cảnh luôn thay đổi. Do đó không có một hình thức hiện hữu của cộng đoàn Ki-tô hữu nào mang tính hoàn hảo và trường tồn. Đây chính là lý do để mỗi cộng đoàn nên học biết cách chấp nhận rằng, bất kỳ một nguyên tắc nào, nếu thấy nó không còn hữu ích cho cộng đoàn để sống và diễn tả đời sống đức tin, đời sống bác ái và các hoạt động tông đồ khác; thì, đến lúc nào đó nó phải được loại bỏ. Dĩ nhiên trước khi loại bỏ, nó đã được chứng thực rằng không còn thích hợp cho những mục đích mà nguyên tắc đã đề ra. Và bất kỳ sự thay đổi nào cũng nên thực hiện như cộng đoàn Ki-tô tiên khởi đã quyết định: “Tất cả đều đồng tâm nhất trí.” (Cv 5, 12).
7. Những nguyên tắc cho việc giao tiếp:
Sau những cuộc gặp gỡ cá nhân tốt đẹp trong niềm tin và yêu thương, thì môt vài nguyên tắc cho việc thông tin, sẽ rất cần thiết để có được cuộc sống hài hòa và làm việc chung với nhau. Nghĩa là mỗi thành viên phải biết được những điều gì sẽ xảy ra trong các vấn đề liên quan đến cộng đoàn, như: kế hoạch được thay đổi,, công việc tông đồ của mỗi người, tình trạng tài chánh cộng đoàn, thông tin từ cấp cao hơn hay của Giáo Hội, và những gì thuộc mối quan tâm đối với các thành viên. Tuy nhiên, sự bí mật riêng tư của cá nhân luôn luôn được tôn trọng, những vấn đề đó được xem là quyền bất khả xâm phạm. Nếu có sự phỏng đoán, tin vịt, lời đồn đại, hay những thông tin phát xuất từ bên ngoài cộng đoàn, thì tất cả cho thấy việc thông tin trong cộng đoàn đó còn thiếu sót.
Nguyên tắc lý tưởng cho việc thông tin là trong buổi họp cộng đoàn, khi các thành viên đều tham gia ý kiến trong quá trình đi đến quyết định, và người phụ trách cộng đoàn đưa ra quyết định cuối cùng và thông báo điều đó. Những người đảm nhận các trách vụ khác nhau trong cộng đoàn cũng có thể thông báo quyết định của họ tại buổi họp. Tốt nhất là dùng một bảng thông báo, để thông tin cho tất cả các thành viên biết về những thay đổi về một thông lệ nào đó của cộng đoàn, hay sự vắng mặt của một thành viên.
Vài gợi ý:
1/ Trong đời sống của bạn, điều gì được ưu tiên nhất? Những giá trị quan trọng nhất trong đời bạn là gì ?
2/ Bạn có nghĩ mình đang được đối xử như một người tự do, và một người trưởng thành có trách nhiệm trong cộng đoàn không?
Lm.Paul
Nếu nói cuộc đời của mỗi người là một hành trình thì, qua mỗi chặng hành trình đều ghi dấu những bước chân của người lữ hành. Trong đời tu cũng thế, người ta hay nói ơn gọi là bước theo chân Đức Giê-su Ki-tô. Có một bài hát nào đó đã diễn tả về một người bước đi trên cát, nhìn lại vết chân đã đi qua ngỡ đó là của mình, nhưng thực ra đó chính là của Chúa. Quả thực như vậy. Vì đời tu là vâng theo mệnh lệnh của Chúa Giê-su là: “Hãy theo Thầy !”. Nếu như tôi không bước đi theo mệnh lệnh này là tôi đã đi sai đường. Nếu như tôi cho rằng mình có khả năng để tự lập hoàn toàn bằng đôi chân mình mà, không cần ân sủng Chúa và không cần sự trợ giúp của bất kỳ ai, đó chỉ là ảo tưởng và đầy tự mãn kiêu căng. Chủ đề Năm Thánh của Giáo Hội hiện nay là: Bước đi trong hy vọng. Phải chăng đây cũng là một lời mời gọi để quý soeurs mừng kỷ niệm khấn Dòng, nhìn lại những chặng đường đã qua trong đời mình, có phải là những bước đi trong hy vọng hay không? Và hy vọng đó là gì đối với mình?
Nhìn vào thiệp mời dự lễ khấn lần đầu và mừng kỷ niệm của quý Sơ mừng: 25 – 50 – 60 – 70 năm khấn Dòng, của chị em Chúa Quan Phòng tôi thấy cả một chuỗi dài lịch sử. Có lịch sử mới bắt đầu được viết lên, có lịch sử đang ở đỉnh cao, có lịch sử của bóng chiều cuộc đời mình. Chắc chắn dịp mừng lễ này nơi mỗi chị em, nơi các ngoại đều dừng lại để nhìn những bước chân đã qua của đời mình, trong hành trình theo Chúa. Mỗi bước chân đi qua không đơn thuần là bước chân của sự đáp trả bằng ý chí và tự do của bản thân; nhưng còn là, một sự huyền nhiệm của tình yêu quan phòng mà Chúa đã gìn giữ. Vì vậy đây là khoảnh khắc để mỗi người nhìn lại quá khứ với tâm tình tri ân; và hướng về tương lai với tâm tình khiêm tốn phó thác.
Với năm chị em khấn lần đầu, thì đây cũng là thời điểm khởi đầu để chính thức viết lên trang sử đời tu của mình. Những tháng năm tìm hiểu, nhất là thời gian nhà tập là thời gian để quan sát, lắng nghe và cuối cùng là chọn lựa hành trình thực sự cho đời mình. Thay đổi từ tà áo dài trắng tinh khiết của tập sinh, để chuyển màu xanh sậm trở nên một tu sĩ thực thụ. Chị em sẽ tập dần bước đi trên đôi chân của mình, tập đón nhận trách nhiệm và còn nhiều điều khác chờ đợi, để qua đó giúp chị em mỗi ngày lớn lên trong tư cách là một tu sĩ. Chị em không bước đi trong đơn độc, mà là có chị em cùng đồng hành với mình. Nghĩa là từ nay, chị em học chấp nhận chết đi cho bản thân, để tận hiến cuộc đời cho Chúa qua việc phục vụ tha nhân. Chị em bước đi không phải chỉ nuôi hy vọng là vài năm sau sẽ khấn trọn đời. Đó chỉ là niềm hy vọng nhỏ và ngắn hạn để nối kết với rất nhiều hy vọng khác trong đời mình, hướng về một Hy Vọng vĩ đại hơn, có tính chung cục của cuộc đời mình.
Ngày khấn lần đầu tôi nghĩ chị em sẽ rất vui, vì trải qua một thời gian huấn luyện khá dài đối với một người trẻ, nay ước mơ đã thành hiện thực. Chị em hãy đón nhận niềm vui và hạnh phúc hiện tại, để có động lực tiếp tục dệt nên ước mơ khác cho đời mình trong tương lai. Có lẽ thời gian huấn luyện khởi đầu đã cho chị em trải nghiệm và kinh nghiệm khi đối diện với thử thách. Đây là điều tốt cho chị em, vì tương lai sẽ còn rất nhiều khó khăn đang chờ đợi, thì khó khăn của quá khứ sẽ giúp chị em trưởng thành hơn trong tương lai. Chị em cũng nên nhớ rằng, hôm nay chỉ là khấn lần đầu. Nghĩa là chị em vẫn còn trong thời gian huấn luyện khởi đầu, dù nay đã là tu sĩ thực thụ. Nhưng dẫu cho tương lai sắp tới có thế nào thì, chị em luôn nhắn nhủ với lòng mình là: lời xin vâng hôm nay là một lần cho suốt đời. Bởi rồi đây chị em sẽ gặp không ít khó khăn, thách đố lắm khi làm cho chị em chao đảo và muốn buông xuôi. Vì vậy hãy nuôi dưỡng mãi trong tâm trí sự xác quyết mạnh mẽ của lời xin vâng lần đầu khi tuyên khấn.
Thêm một điểm nữa chị em nên nhớ, hành trình đời mình là bước theo Chúa Ki-tô. Chúa Giê-su đã nói rõ với chị em: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.”. Con đường Chúa Giê-su là đường tình yêu. Nhưng đường tình yêu của Chúa Giê-su dệt nên bằng mầu nhiệm tự hủy, bằng con đường cheo leo vác thập giá bước lên đồi Canve, rồi cuối cùng với thân xác bị chết nhục nhã trên thập giá và vùi trong nấm mồ. Đó cũng sẽ là những bước chân mà chị em sẽ bước đi trong hành trình của mình. Chúa Giê-su không trình bày cho chị em một lộ trình hứa hẹn đầy màu hồng tươi thắm. Thập giá là sự thật mà Chúa muốn mời gọi chị em tự do bước theo. Thập giá là con đường chị em bước theo để dệt hy vọng sự sống cho đời mình. Chính sự sống, ơn cứu độ mới là niềm hy vọng đích thực của hành trình mà chị em cần hướng tới. Tuy nhiên hôm nay chị em hãy cứ vui, vì đây là ngày trọng đại mang dấu ấn lịch sử đời tu của chị em. Không những thế, chị em tập sao cho có được khả năng sống vui mỗi ngày. Vì niềm hy vọng chị em mang trong mình sẽ không có chỗ cho sự dung hòa của đau buồn. Hay nói cách khác có vẻ mâu thuẫn, đau buồn là môi trường cho hy vọng phát triển
Bây giờ tôi muốn chia sẻ cùng với các chị em mừng hai mươi lăm năm khấn Dòng. Mừng 25 năm khấn, có lẽ chị em cũng đã bước sang cái tuổi đời 50. Cái tuổi mà Á đông chúng ta quan niệm là “Ngũ thập tri thiên mệnh.”, tuổi chín chắn để suy đoán để ngẫm mệnh trời. Với tuổi này, các soeurs đã tích lũy nhiều khinh nghiệm và sự khôn ngoan cả tuổi đời lẫn tuổi tu. Có thể nói đây là tuổi đỉnh cao của một đời người, vì biết minh định mọi vấn đề cách cân bằng giữa lý trí và cảm xúc. Trong thế giới đương đại mau thay đổi, các giá trị đều được xét lại, mọi cam kết mang tính bền vững dường như khó chấp nhận thì, việc sống trung tín 25 năm với đời tu thì đây cũng là điều đáng trân trọng. Vậy quý soeurs hãy vui mừng và hạnh phúc vì sự trung tín của mình.
Các Sơ mừng 25 năm khấn Dòng là vào cái tuổi của con người cẩn trọng trong mọi việc. Các Sơ không còn nhìn đời tu với con mắt đầy lý tưởng nhưng lại thiếu thực tế của thời tuổi trẻ. Nghĩa là không còn tràn đầy năng lượng nhiệt huyết nhưng thiếu suy xét và bồng bột của thời thanh xuân. Nhìn lại 25 năm qua, có lẽ các Sơ thấy rõ điều này trong các chặng hành trình của mình. Nhìn qua năm em khấn lần đầu hôm nay, các Sơ nhớ lại cái thuở ấy 25 năm trước, tâm trạng mình cũng gần như các em hôm nay vậy. Rồi sau khi khấn, được tiếp tục huấn luyện, hay lãnh nhận trách vụ nào đó cho đến lúc khấn trọn đời; các Sơ cũng trải qua không ít những kỷ niệm vui buồn, thất bại hay thành công, được chị em quý mến hay khó chịu...Mỗi gian đoạn, mỗi chặng hành trình đều mang theo những kỷ niệm của nó và làm nên cuộc đời của quý Sơ hôm nay. Đồng thời đó cũng là điểm dừng để chuẩn bị cho một hành trình sắp tới.
Mừng 25 năm như cột mốc đánh dấu mình đang ở vào thời điểm đỉnh cao của đời người. Có lẽ các Sơ cũng đang đảm nhận những trách vụ nào đó trong Tỉnh Dòng. Nhìn vào thế hệ các mẹ, các ngoại mừng 50 – 60 – 70 năm, các Sơ sẽ hướng về một tương lai gần như đang chờ đợi các Sơ. Nhìn vào các em khấn lần đầu, các Sơ sẽ thấy trách nhiệm đang chờ mình hoàn thành, rồi mai này sẽ trao lại cho thế hệ kế tiếp. Dòng chảy cuộc đời luôn là thế, không ai có khả năng để bám víu lấy mãi khoảnh khắc huy hoàng của đời mình cả. Hiện thời là giai đoạn đẹp trong hành trình đời tu của các Sơ. Bởi các Sơ đã có nhiều kinh nghiệm và khôn ngoan được tích lũy từ chặng đường 25 năm qua. Các Sơ đã học được từ các mẹ, các ngoại để dần hình thành nên con người của quý soeurs hôm nay. Các Sơ đã lớn lên dần từ những yếu đuối, từ những bộp chộp của tuổi trẻ, từ những nghi kỵ hiểu lầm, từ những thất bại cay đắng, từ những thành công, cả từ những ảo tưởng về bản thân... và còn nhiều điều khác trong quá khứ đã giúp các Sơ can đảm để đứng vững và lớn lên.
Xét theo lẽ thường thì tương lai của các Sơ vẫn còn dài, hành trình vẫn còn chờ đợi các Sơ tiến bước. Nhưng bước tiến của ngày mai sẽ không còn là những bước chân vồn vả của một thời tuổi trẻ. Các Sơ sẽ bước đi bằng những bước chân khoan thai đầy cẩn trọng, của một người từng trải qua nhiều cheo leo va vấp. Các Sơ cũng sẽ tập biết buông bỏ những thứ hành trang gây nhiều vướng bận làm cản trở hành trình. Các Sơ chỉ mong giữ lại trong hành trang của mình một trái tim rộng mở cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Bởi cuối cùng chỉ có mỗi trái tim nồng ấm biết yêu thương mới đưa đến chân trời hy vọng của niềm vui cứu độ. Phải chăng điều này sẽ là một thách đố mới cho chặng hành trình sắp đến của quý soeurs ? “Tri thiên mệnh” không phải đó là bến bờ cho một đời người tìm kiếm, là niềm hy vọng chung cục sao?
Cuối cùng con xin chia sẻ cảm nghĩ của mình về các mẹ và các Ngoại đáng kính. Con chỉ mới 35 năm khấn Dòng, nên chưa có kinh nghiệm về các chặng đường này. Nhưng hiện tại con đau bệnh và đang an dưỡng, nên điều này cũng cho con đôi chút cảm nghiệm của tuổi xế chiều. Với chuỗi hành trình dài của các mẹ và các ngoại đã đi, được minh chứng sống động bằng thời gian của năm khấn Dòng. Không rõ quá khứ đó như thế nào, chỉ tính đến thời gian khấn cũng đủ trân trọng và khâm phục lắm rồi. Con nghĩ với thời gian khấn Dòng dài như thế, các mẹ – các ngoại đủ tư cách để viết lên những trang sử cá nhân đời mình với niềm tự hào. Con chân thành chúc mừng và rất ngưỡng mộ đến các ngoại.
Con đã nói là, vì mình chưa bước vài cái tuổi ‘cổ lai hy’, nên chưa thấu hiểu nỗi niềm thực sự của các ngoại được. Tuy nhiên khi nhìn lại bản thân đau yếu bệnh tật hiện tại, rồi nhìn ngắm các ngoại ngồi trên xe lăn khi tham dự thánh lễ, con thấy có chút gì đó của sự đồng cảm, đó là sự bất lực của thân thể do tuổi tác. Có lẽ trong thâm sâu các ngoại cũng có chút gì đó ngấm ngầm phản kháng lại sự bất lực này. Tại sao tôi lại như thế này ? Những năm trước đây, tôi vẫn còn mạnh khỏe, tôi vẫn còn hoạt động năng nổ, bước chân tôi vẫn còn vững chải, giọng nói tôi vẫn còn vang mạnh, uy tín của tôi được chị em tôn trọng..., sao bây giờ tôi lại như thế này ? Biết bao nhiêu lời tự chất vấn, như muốn phủ nhận cái thực tế của một thân thể đã dần suy tàn theo qui luật tự nhiên. Nhưng nếu có âm thầm phản kháng thực sự đi nữa, con nghĩ các ngoại vẫn nuôi dưỡng trong thâm sâu tâm hồn mình một niềm tin vững mạnh và hy vọng lớn lao nơi Thiên Chúa. Đối diện với sự bất lực do thân xác suy yếu, các ngoại càng thấy sự mỏng manh, và càng phó thác đời mình cho Chúa nhiều hơn. Bằng chứng là hiện tại các ngoại đang mừng kỷ niệm sự trung tín của mình dành cho Chúa và dành cho chị em.
Và rồi trong những giây phút hồi tưởng, các ngoại sẽ nhớ lại một thời trong dĩ vãng, một quá khứ huy hoàng đã qua. Quả thật như nhiều người hay nói: người trẻ hướng về tương lai, còn người già sống trong quá khứ. Bởi tương lai là điều gì đó mờ mịt với sắc màu ảm đạm của héo úa phai tàn. Một qui luật đào thải tự nhiên quá ư khắc nghiệt đối với thân phận của con người. “Chúa đã sinh ra con và cho con làm người”. Làm người là sự hiện hữu thuộc về thế giới vật chất và khả giác này. Một sự thuộc về quá lâu dần trở nên lệ thuộc, để rồi hiện hữu này chỉ chấp nhận sự tồn tại trong thực tế của thế giới vật chất. Nghĩa là chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được niềm vui và hạnh phúc từ những gì do thế giới - vũ trụ vật chất này mang lại thôi. Ngay cả những niềm vui thuộc tinh thần hay lý trí thì, nó cũng được chuyển hóa qua cảm giác vật chất. Trong khi đó bằng niềm tin, chúng ta tin vào hạnh phúc viên mãn là có thực. Nhưng khốn nỗi, nó lại quá siêu việt vượt ra khỏi khả năng nắm bắt của con người chúng ta. Vì vậy việc loại bỏ sự lệ thuộc vào thế giới vật chất là điều rất khó chấp nhận theo lẽ tự nhiên. Đây chính là lằn ranh của sự dằn co giữa niềm tin phó thác trước sự thật. Như sự thực vẫn mãi là sự thực, cho dẫu ta không muốn thì nó vẫn xảy ra.
Con xin lỗi các ngoại, vì mừng kỷ niệm khấn Dòng là niềm vui, con lại chia sẻ những tâm trạng có lẽ không được hợp với bầu khí này. Thực ra khi chia sẻ vấn đề của tuổi già sức yếu ở đây, con muốn nói đến niềm tin và hy vọng. Con nghĩ với tuổi đời của các ngoại, có lẽ đã từng trải qua không biết bao nhiêu biến cố vui buồn, biết bao nhiêu là thành công và thất bại, biết bao nhiêu là thất vọng và hy vọng đan xen nhau...Và trong thời điểm hiện tại cho thấy niềm tin và hy vọng trong lòng các ngoại vẫn mạnh mẽ, nó đã được chứng thực bằng với lòng trung tín của mình. Vì vậy phải chăng hôm nay khi đối diện với một thân xác đau yếu bệnh tật thì, qua đó cho thấy sức mạnh nội tại của niềm tin được tỏ lộ cách mạnh mẽ như thế nào. Niềm tin đó giúp các ngoại nắm bắt hy vọng của tương lai để đưa về với thực tại. Và trong thực tại của hy vọng mà các ngoại có thể đang cảm nghiệm thì, đó không phải là hạnh phúc đích thực mà các ngoại đã dành cả cuộc đời mình để lên đường tìm kiếm hay sao ?
“Chúa đã sinh ra con và cho con làm người.”. Trong lời bài ca “Một cõi đi về”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có viết: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi xuống trăm năm một cõi đi về.”. “Chúa đã sinh ra con...”, như vậy con từ Chúa mà ra; và rồi một ngày nào đó con trở về bên Chúa, là cội nguồn của con, là bến bờ hy vọng của đời con. Một đời các ngoại đã trải qua biết bao cung đường trần gian. Trong đó có lúc các ngoại cũng cảm thấy dường như mình đang “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.”; có lúc các ngoại cảm thấy cuộc đời mình như đang mang “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt.”. Giờ đây ở tuổi xế chiều, các ngoại cảm nhận được rằng thời điểm để “rọi xuống trăm năm một cõi đi về.”. Nói như thánh Augustin là: linh hồn con luôn khao khát Chúa, và chỉ có thể được an nghỉ cách bình an trong Chúa. Được ở trong Chúa đó chính là niềm hy vọng đích thực, đó là bến bờ của đời người ước mong cập bến chung cục. Mang lấy niềm tin và hy vọng đích thực này, con nghĩ dịp mừng kỷ niệm ngày khấn sẽ là một ngày tuyệt vời trong đời của các ngoại.
Những bước chân chập chững của các nữ tu khấn lần đầu; những bước chân vững chải của quý Sơ 25 năm, những bước chân chầm chậm của các mẹ - các ngoại lớn tuổi 50 – 60 – 70 năm, như đang dệt nên bản trường ca hùng tráng cho một đời tận hiến. Bản trường ca như diễn tả sự trung tín thuỷ chung trước một thế giới mau đổi thay. Bản trường ca như gửi đến một thế giới xem hưởng thụ như là hạnh phúc; thì ngược lại, buông bỏ mới thật sự mang cho cuộc sống con người an bình và hạnh phúc đich thật. Bản trường ca như tấu lên điệu khúc tha thứ và biết đón nhận những khác biệt của nhau, trong một thế giới chao đảo bởi hận thù chiến tranh. Tóm lại, bản trường ca được hợp tấu bởi nhiều thế hệ của đời tận hiến, đang nói với chúng ta như Chúa Giê-su đã nói: “Họ không thuộc về thế gian này.”, mà là công dân Nước Trời mai hậu. Chúc các ngoại, quý soeurs ngày mừng khấn đón nhận niềm vui và hạnh phúc đích thực, để qua đó làm lan tỏa sức mạnh của niềm tin và hy vọng cho anh chị em mình. Chúc quý Sơ bắt đầu và lại bắt đầu viết tiếp nên chương mới cho chặng hành trình đời mình bằng tất cả niềm tin và hy vọng.
PAUL
Quý chị kính mến!
Chúng ta là những người hành hương của hy vọng, đang hành hương trên con đường thánh hiến, dấn thân phục vu tha nhân, hầu làm vinh danh nước Chúa. Tạ ơn Chúa đã cho em có cơ hội được cùng hành hương với các chị nữ tu Chúa Quan Phòng trên con đường hành hương. Đến với những vùng truyền giáo nơi miền sông nước Cà Mau. Dù thời gian không nhiều cũng không ít, để đủ em cảm nhận về hình người nữ tu Chúa Quan Phòng, với tà ào dài hy vọng trên đường hành hương.
Mặt trời đã lui xuống đại dương để nhường chỗ cho bóng đêm lên cao. Tuy nhiên, tại nơi đây, trong ngôi nhà nguyện nhỏ bé Giáo điềm Xẻo Lá, nơi vùng sông nước, một Mặt Trời khác lại xuất hiện với độ chiếu sáng mạnh hơn gấp nhiều lần so với ánh mặt trời ban ngày. Đó chính là Chúa Giêsu Thánh Thể Mặt Trời Công Chính trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Mặt Trời ấy có sức phá tan đêm tối của đất trời và len lỏi vào tận nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn người nữ tu Quan phòng. Và cũng chính từ nơi Mặt Trời đó, các chị đón nhận được nguồn ân phúc, suối nguồn tình yêu, bình an và hy vọng đang tuôn đổ trên cuộc đời quý chị.
Các chị (Nữ tu của Chúa Quan Phòng) đều tiến liên một giai đoạn mới với nhiều háo hức, nhiều mong mỏi, nhiều băn khoăn và không thiếu những lắng lo. Trong giây phút linh thiêng bên Chúa Giêsu Thánh Thể. Chúng ta xin nhìn lại chặng đường đã qua và hướng về tương lai phía trước đang đón chờ chúng ta, với hình ảnh về tấm áo Dòng, tà áo dài xanh núp xám hy vọng trên đường hành hương..
Người ta thường nói: “Áo Dòng không làm nên thầy tu”. Tuy nhiên, áo Dòng chính là dấu chỉ của một tâm hồn khao khát tận hiến cho Chúa. Hình ảnh những nữ tu Chúa Quan Phòng, với tà áo dài thật nhẹ nhàng, thanh thoát và thánh thiện dường bao. Nhưng lạ thật! Áo đó không phải màu hồng, màu trắng, màu nâu mà là tấm áo màu xanh núp xám. Gam màu xanh của tà áo Dòng hy vọng, nhắc nhớ các chị về sự “Từ bỏ” và “Trao hiến”. Trước hết, sự từ bỏ sâu thẳm nhất là sự từ bỏ gia đình ,một thứ tình cảm thiêng liêng trong trái tim con người. Có lẽ chưa lần nào, những nữ tu ấy lại rời gia đình xa và lâu như vậy. Nhưng trong cái xa và lâu ấy, Chúa dạy chúng ta cách nối kết với gia đình bền chặt hơn bằng mối dây cầu nguyện, bằng những hy sinh nhỏ bé và bằng những lời kinh sớm chiều. Chúa cũng dạy các chị bài học về sự phó thác hoàn toàn người thân cho bàn tay yêu thương của Thiên Chúa và để cho Chúa lo thì tốt hơn các chị lo nhiều lần. Thứ đến, sự từ bỏ hơn cả là “Bỏ cái tôi của mình”. Chúa cần nơi các chị cái tôi đủ nhỏ để có thể nhận lấy mọi lời dạy dỗ, bảo ban của những người có trách nhiệm. Chúa mong nơi các chị cái tôi đủ vơi để có thể chứa thêm những lời góp ý chân thành từ chị em. Chúa muốn nơi các chị một cái tôi chẳng còn gì để có thể đón nhận những thiếu sót, khiếm khuyết và gai góc của mọi người xung quanh. Tự do là món quà quý giá mà Thiên Chúa tặng ban cho con người ngay từ thuở khai thiên lập địa. Tự do cũng là thứ vô hình mà con người ngày nay luôn khao khát tìm kiếm. Tuy nhiên, khi lãnh nhận tấm áo Dòng hy vọng, các nữ tu Chúa Quan Phòng phải từ bỏ thứ tuyệt vời ấy để thuộc trọn về Chúa và để Chúa định liệu đời sống của các chị. Và nhờ thế, các chị sẽ có được sự tự do nội tâm, thứ tự do đích thực trong tâm hồn.
Mùa thánh hiến đang chuẩn bị về trên các hội dòng lữ hành hy vọng, đâu đó sẽ vang lên những bản tình ca du dương về đời thánh hiến. Các tỉnh dòng Chúa quan phòng chuẩn bị thâu nhận những thành viên vào các giai đoạn để cùng với tỉnh dòng bước đi trong hy vọng. Các chị tân Tiền tập chuẩn bị được đội chiếc lúp trắng lên đầu để che đi mái tóc vốn làm duyên cho người thiếu nữ. Từ đây, các em bắt đầu chập chững những bước đi đầu tiên, từ đời sống thế tục vào đời sống tu trì. Đó vẫn là sắc trắng một màu sắc tượng trưng cho sự mỏng manh, dễ vỡ của chiếc lúp nhưng khi đi cùng tấm áo Dòng xanh hy vọng, một sắc màu có độ tương phản mạnh, những chị Tập sinh lại như muốn nói với Chúa rằng: “Kể từ đây, chúng con quyết tâm từ bỏ và dâng hiến cho dẫu không thể tránh khỏi những lúc yếu đuối trong thân phận con người trên con đường hành hương của hy vọng”.
Lúc này, khi nhìn về tấm áo Dòng, tà áo hy vọng chắc hẳn các chị có một tâm tình và cảm nghiệm riêng. Với những chị em Tập sinh, các chị là những người chuẩn bị bước lên tuyên khấn. Và các chị em Tập sinh đã đi gần hết giai đoạn của năm tập thánh, các chị phải tự vấn chính mình rằng: “Sắc xanh than tinh tuyền của tấm áo Dòng, tà áo hy vọng ngày ấy liệu đã phai nhiều hay ít? Những gì đã cố gắng từ bỏ, liệu có lúc nào các chị thấy tiếc mà lấy lại không? Những khi màu áo phai đi, các chị hãy nhớ phải lấy màu Giêsu Thánh Thể để nhuộm lại chăng? Và với các chị Tiền tập sắp bước vào năm “Sa Mạc Thánh Năm Hy Vọng” 365 ngày chìm sâu trong Chúa, 12 tháng đi vào mối tương quan cá vị với Chúa Quan Phòng qua việc đào luyện đời sống thiêng liêng để hun đúc mối dây thân tình với Chúa. Giờ này, khi nghĩ về tấm áo Dòng, tà áo hy vọng để rồi một lần nữa, các chị đưa ra những quyết tâm với Chúa và cố gắng tìm được phương thế hữu hiệu hầu có thể giữ nguyên màu áo cho riêng mình.
Chúa ơi! Xin Chúa hãy nhuộm các chị trong tình thương của Người, xin hãy uốn nắn các chị để một mai đây, mỗi chị có thể tự tin bước lên kí kết Giao ước Tình yêu với Đấng mà chúng con ngày đêm kiếm tìm.
Trong những giây phút khi các chị quỳ bên Chúa Giêu Thánh Thể, các chị hãy dâng lên Chúa muôn ngàn lời tri ân cảm tạ với biết bao hồng ân mà Chúa đã đổ xuống trên cuộc đời các chị. Các chị hãy khiêm tốn xin Chúa tuôn đổ muôn ơn lành xuống trên Tỉnh Dòng, trên gia đình của các chị. Cùng xin Chúa tuôn đổ muôn ân phúc xuống trên quý Ân Thân Nhân, tất cả những người đã và đang âm thầm cầu nguyện, đồng hành và nâng đỡ các chị trên bước đường hành hương, sống ơn gọi trong hy vọng. Những người còn sống, xin cho họ luôn được tràn đầy ơn thánh Chúa và bình an trong sự quan phòng yêu thương của Ngài. Với những người đã kết thúc cuộc hành hương hy vong trước các chị, xin cho các ngài sớm được hưởng tôn nhan Chúa trong Nước Trời.
PIERRE JEAN TIẾN, IVE.
(Tâm Tình Gởi Quý Chị Dòng Chúa Quan Phòng)
Chiều thứ năm Tuần Thánh vừa rồi, tôi tham dự Thánh lễ tại cộng đoàn quý soeurs Chúa Quan Phòng. Cũng hơi lâu rồi tôi chưa sang dâng lễ cho cộng đoàn các chị em hàng xóm cận kề với cộng đoàn chúng tôi. Chính vì không thường xuyên, nên mỗi lần sang là mỗi lần tôi có cảm giác thấy cái gì cũng mới cả. Vì cảm thấy mới nên tôi hay quan sát, ngắm nhìn, ghi nhận để biết đâu sẽ mang lại nhiều điều mới bổ ích cho bản thân. Chiều hôm ấy khi đến gần cuối nhà nguyện, tôi gặp và chào một ngoại đang đi vào nhà nguyện. Ngoại dừng lại và hỏi tôi: ‘Lâu nay không thấy cha sang dâng lễ, cứ tưởng cha đã đổi đi nơi khác rồi. Chúng con thích cha dâng lễ và nghe giảng lắm !’. Tôi thầm nghĩ có lẽ vì mình cũng thuộc lớp già đau yếu, nên có sự tương đồng nào đó với các ngoại. Tôi đáp: ‘Dạo này con hay đau lắm, nhiều lúc không dâng lễ chung với anh em được.’. Và tôi hỏi ngoại: ‘ Con có viết ít bài suy nghĩ về các ngoại, ngoại có được đọc hay nghe chưa ?’. Ngoại trả lời: ‘Được nghe rồi.’. Sau đó tôi chào ngoại và đi đến phòng thánh để chuẩn bị cho Thánh lễ.
Trước giờ lễ chỉ vài ba phút, cha Linh giám ngỏ ý với tôi: Anh chủ tế nhé, cha khách giảng lễ, tôi rửa chân và kiệu Thánh Thể. Tôi cảm thấy bối rối, sao đến giờ này mới cho biết ? Cũng may vai trò chủ tế chỉ nói vài lời dẫn đầu lễ mà thôi. Hơn nữa Phụng vụ thứ năm Tuần Thánh tràn ngập chủ đề tình yêu, nên cũng dễ nói đôi lời và cũng không có nhiều nghi thức như đêm Vọng Phục Sinh. Cũng nhờ chủ đề tình yêu mà trong Thánh lễ tôi hướng nhìn chăm chú hơn về các ngoại đang ngồi trên xe lăn, đối diện bàn thờ. Hình ảnh các ngoại ngồi xe lăn khá quen thuộc trong mắt tôi, mỗi khi sang dâng lễ cho cộng đoàn đều thấy. Nhưng hình ảnh các ngoại và xe lăn hôm nay lại có gì đó khan khác trong tâm trí tôi. Phải chăng bầu khí tình yêu của Phụng vụ đã tác động trên cái nhìn và suy nghĩ của tôi. Cũng tối hôm đó tôi sang dự Chầu Thánh Thể (vì cộng đoàn tôi không cử hành Tam Nhật Thánh), tôi lại thấy có vài ngoại ngồi xe lăn cũng dự giờ Chầu. Một hình ảnh rất đẹp đầy yêu thương chợt nỗi lên trong tâm trí tôi. Và tối hôm ấy hình ảnh các ngoại với chiếc xe lăn cứ lẩn quẩn trong tâm trí tôi. Và phải chăng người già và xe lăn có mối lương duyên, như:
Xe lăn cùng với tuổi già.
Như duyên tiền định kết liền cùng nhau.
Thôi thì chia sớt khổ đau,
Ta cùng đi nốt chút đời tương lai !
Đây không phải là sự cám cảnh rồi cất lời thở than cho thân phận con người. Nhưng tôi muốn nhìn nhận một thực tế; mà, con người bình thường theo lẽ tự nhiên phải bước vào và đón nhận nó. Ngồi trên xe lăn, giờ đây nếu như ngoại nào còn tỉnh trí, có lẽ cũng hồi tưởng về một ký ức xa xưa ghi dấu trong dĩ vãng đời mình. Một cái thời mà bây giờ các ngoại nhìn vào thế hệ con cháu đang chăm sóc cho mình, các ngoại sẽ nói với họ khởi đầu thường là hai chữ : “ngày xưa”. Đúng, vào cái thuở ‘ngày xưa’ ấy khi các ngoại còn trẻ trung, tràn đầy sức lực và năng lượng phục vụ. Các ngoại sẽ kể và sẽ kể mãi câu chuyện về ‘ngày xưa’, dường như không có hồi kết. Câu chuyện cứ được lập đi lập lại nhiều lần, mà các ngoại cứ ngỡ rằng mới kể cho các cháu nghe lần đầu. Câu chuyện chỉ kết thúc một khi các ngoại không còn có thể để chia sẻ về câu chuyện ‘ngày xưa’ của các ngoại được nữa. Quả đúng là, tuổi trẻ sống cho tương lai, người già sống về quá khứ.
Tôi không rõ các Dì trẻ khi chăm sóc cho các ngoại, các Dì có cảm nhận thế nào, thái độ phục vụ ra sao ? Tôi nghĩ các Dì sẽ không ít bực dọc khi được phân công để phục vụ các ngoại đâu. Vì chăm sóc người già là một việc làm không hề dễ dàng và thoải mái. Có một quãng cách thế hệ quá xa, nên sự hiểu và thông cảm với nhau là rất khó. Người trẻ thường nhanh nhẹn, làm gì cũng muốn mau chóng thấy kết quả. Trong khi đó các ngoại lại chậm chạm, lắm lúc có những đòi hỏi quá quắt mà người trẻ không thể chịu nổi. Chắc chắn sẽ còn nhiều điều xảy ra khi phải chăm sóc các ngoại. Hôm đó tôi cho các ngoại rước lễ, có hai ngoại ngồi nghiêng đầu mắt nhắm, tôi đụng vào và gọi nhưng vẫn không mở miệng để nhận Mình Thánh. Hai ngoại quá mệt hay ở trong tình trạng không còn ý thức là mình đang dự lễ? Tôi không rõ, có lẽ các Dì trẻ giúp sẽ rõ về các ngoại hơn. Tôi đưa ra hình ảnh cụ thể này là để muốn nói, có một điều chắc chắn sẽ đến với các Dì trẻ; là rồi sẽ có một ngày các Dì cũng sẽ bước vào nơi ngôi nhà tĩnh dương hưu trí và ngồi vào chiếc xe lăn, như các ngoại đang ngồi và nhờ vào sự chăm sóc của quý Dì trẻ trong hiện tại. Suy nghĩ này sẽ là một lời cảnh tỉnh cho các Dì trẻ đang làm công việc khó khăn là phục vụ các ngoại. Hãy phục vụ trong khiêm tốn, nhẫn nại và yêu thương.
Bây giờ các ngoại sẽ dành phần lớn thời gian còn lại của đời mình gắng liền với chiếc giường bệnh hay xe lăn. Ngồi trên chiếc xe lăn, ngoại nhìn qua cửa sổ để hướng về chân trời rộng mở hy vọng của tương lai; hay ngoại quay về với quá khứ với nỗi đau khắc khoải của một thời vàng son đã qua đi ? Dẫu có chị em cùng ngồi xe lăn với mình, dẫu có các con cháu chăm sóc...;nhưng có lẽ, trong tâm hồn ngoại vẫn có chút cô đơn đang gậm nhấm. Ngoại tâm sự với ai về nỗi niềm thầm kín của tuổi già bây giờ ? Chắc chắn các ngoại sẽ nói chuyện với Chúa và tín thác vào Ngài. Có lẽ còn mỗi chiếc xe lăn vô tri đang gắn liền với cuộc đời ngoại trong tuổi già, lúc riêng tư nếu như nó hiểu. Xe lăn vô tri, nhưng nó lại là người bạn thân thiết gần gũi ngoại nhất trong lúc này.
‘Tôi’ là chiếc xe lăn mà ngoại đang ngồi trong lòng tôi. Mỗi ngày tôi nghe rất nhiều lời tâm sự của ngoại. Có lẽ tôi đã nghe các ngoại tâm sự nhiều hơn các Dì trẻ. Bởi tôi không chỉ nghe bằng âm thanh mà còn nghe được tiếng lòng thầm kín của các ngoại. Tôi cảm nhận được nỗi buồn và cô đơn của các ngoại khi chỉ ngồi một mình bên cạnh tôi. Tôi cảm nhận được sức nặng của thời gian đang dần đè trên đôi chân ngoại. Tôi biết đôi chân của ngoại bây giờ không còn đủ sức để mang lấy tấm thân cằn cỗi ốm yếu của ngoại được nữa. Nó cũng đã quá yếu theo thời gian dài đồng hành cùng ngoại bôn ba đây đó để phục vụ. Đôi chân bây giờ cần được nghỉ ngơi, và lúc này tôi sẽ là đôi chân cho ngoại trong những ngày còn lại trên cõi trần. Tôi biết rồi một ngày nào đó, tôi cũng sẽ già nua và không còn phục vụ được nữa. Tôi không biết ngày ấy mình sẽ ra sao khi trở thành đống sắt vụn ? Nhưng thôi, đó là chuyện của ngày mai, kết cục ra sao không ảnh hưởng đến hiện tại. Vì tôi biết hiện tại tôi còn hữu dụng đối với ngoại, thế là đủ để tôi vui vẻ sống đời phục vụ của mình cách trung tín nhất.
Có thể nói cuộc đời làm xe lăn của tôi là luôn gắn liền với thân phận của những con người; mà cuộc đời họ ở trong tình trạng, theo cái nhìn tự nhiên là bi đát vì tàn tật hay già nua bất lực. Trong sự gắn kết này giúp tôi có cái nhìn cảm thông cho thân phận khổ đau của kiếp người. Bằng tất cả khả năng tiện ích của mình, tôi ra sức cống hiến phục vụ như là sự chia sẻ nỗi đau khổ này cho những ai tật nguyền - già yếu. Tôi phục vụ cách nhưng không, bất chấp sự hư hỏng bong lóc đang hình thành trên thân mình tôi theo năm tháng phục vụ. Nỗi đau trên thân xác các ngoại đã truyền xuống trên mình tôi. Nỗi đau đó đã tạo trong tôi như chính nỗi đau của mình, và thôi thúc tôi hình thành nên một tình yêu phục vụ khi tôi còn có thể được phục vụ.
Chiều hôm thứ năm vừa rồi, ‘tôi’ chứng kiến các ngoại đưa chân cho cha Linh giám rửa. Các ngoại xúc động vì mình được cha Linh giám rửa chân. Một hành vi tự hạ của Chúa Giê-su được tái hiện, làm sao các ngoại không cảm thấy hạnh phúc như đang được Chúa Giê-su rửa chân. Một niềm vui và hạnh phúc tuy nhỏ đang trỗi lên trong tâm hồn các ngoại, làm cho tôi cũng thấy như mình đang hạnh phúc. Mà thật vậy, vì lâu nay tôi xác tín cho công việc phục vụ của mình là do tình yêu thôi thúc. Nay chứng kiến việc các ngoại được rửa chân, càng làm cho xác tín của tôi thêm vững mạnh. Được phục vụ trong khiêm tốn thầm lặng vì yêu thương, đó chính là hạnh phúc và là ơn gọi chính yếu của đời tôi, một chiếc xe lăn.
Các ngoại và xe lăn là đôi bạn như hình với bóng gắn liền nhau. Ngoại chất chứa trong thân mình sức nặng của tuổi già; xe lăn nâng đỡ và chia sẻ trong cảm thông yêu thương. Chúc các ngoại từ nay sẽ đón nhận một người bạn tuy vô tri, nhưng lại là người bạn luôn cảm thông và nâng đỡ các ngoại mỗi khi cần. Người bạn tên “xe lăn”.
Cha Đaminh Ngô Đức Thiện, OFM
( Viết tặng quý Ngoại)
Tôi nhớ một bài hát sinh hoạt đã nghe từ bé, bây giờ chỉ còn thoang thoảng vài câu, đại ý như: “Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai ? Kẻ thù ta tên nó là hận thù, tên nó là gian ác..”. Rồi thời gian ở học viện sinh hoạt với trẻ, tôi biết thêm bài hát với tựa bài là ‘Con tim’. Tôi vẫn không thuộc hết lời, vì vốn rất dốt về nhạc, dù rất thích nghe. Lời rằng: “Này anh này chị này em, con tim không bao giờ ganh ghét. Này anh...Con tim không bao giờ ghét ghen. Tim ghét ghen là tim hết máu. Tim ghen ghét là tim hết chơi...”. Chỉ đại khái như vậy thôi, không biết có chính xác không; nhưng đại ý lời là thế. Tôi chợt nhớ những bài hát sinh hoạt này là vì, ngày mai bước vào Tuần Thánh. Trong Tuần Thánh Giáo Hội mời gọi ta ngắm nhìn vào dung nhan của một con người, đích thật là ‘Người’ (C’est l’Home ! – This is human !). Nơi ‘Con Người’ có tên là Giê-su này bao hàm: cả hận thù và bao dung, cả kết án và tha thứ, cả ganh ghét và nhân từ, cả hủy diệt và xây dựng...Một thách đố đầy mâu thuẫn mà con người cần ngắm nhìn, suy gẫm để tìm cách vượt qua.
Trình thuật Tin Mừng Gioan ghi nhận sự kiện Chúa Giê-su bị xét xử: “Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: ‘Kính chào Vua dân Do thái !’, rồi vả vào mặt Người. Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do thái... ‘Đây là người !’. Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: ‘Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá !’ ” (Ga 19, 1-6)
“Đây là Người !”. Phi-la-tô chỉ vào Chúa Giê-su và nói với hàm ý mỉa mai, vì hình dáng không còn ra dạng của một con người nữa. Một con người đã bị tra tấn đánh đập dã man, đón nhận ‘Vương miện’ bằng gai trên đầu, kèm theo những lời miệt thị khinh bỉ, dáng đi xiêu vẹo vì đòn vọt, gương mặt hốc hác bơ phờ...Vì không còn ra dáng người nên bị đám đông điên cuồng gào thét kết án: “Đóng đinh nó vào thập giá !” Nhưng tất cả những gì bên ngoài có thể nhìn thấy không ra gì đó, lại là dung nhan của một ‘Người’ theo đúng nghĩa là một ‘Con Người’ đích thật nhất. Một mẫu con người mà Thiên Chúa muốn tái tạo lại sau thảm kịch bất tuân của nguyên tổ, đã làm biến dạng hình người.
“Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai ?”. Lời gào thét: “Đóng đinh nó vào thập giá !”, nghĩa là đòi phải giết chết một con người; vậy đám động đầy thù hận đó sống với ai ?. Tại cổng của trại tập trung nổi tiếng Auswich – Ba lan, đã hủy diệt dân Do thái, thời Đệ nhị thế chiến có ghi: “Nơi đây không có Thiên Chúa.”. Sau khi thế chiến kết thúc, người ta cho viết thêm câu: “Nơi đây không có con người.” Thật đúng như vậy, vì đây là lò thiêu hơi ngạt giết trên dưới ba triệu dân Do thái. Một nơi chốn quả thật là địa ngục, vì không còn nhân tính mà chỉ là ác quỷ. Tuy nhiên vẫn có những nơi tưởng chừng là thiên đàng, lại là nơi có ác quỷ đội lốt để hòa lẫn với con người. Bởi tuy sống chung và cùng nói nên lời yêu thương, nhưng trong thâm tâm đang tìm cách cắn xé nhau, loại trừ nhau và không thèm nhìn mặt nhau. Dù là môi trường nào đi nữa, nếu không có Thiên Chúa, nên sẽ không có con người và chỉ con lại ác quỷ cư ngụ mà thôi !
“Người ta cứ dấu này mà biết các con là môn đệ Thầy, là: Hãy yêu thương nhau !”. Ngắm nhìn Đấng đã bị đâm thâu, rồi nhìn sang anh chị em mình để xem, có gương mặt đáng ghét nào đang cận kề không ? Tôi rất mong được trở thành người đích thực; nhưng con tim héo úa ‘hết máu’ cứ ngăn cản, không cho tôi mở ra để biết sống yêu thương nhau. Tại sao tôi lại phải cực khổ để ghét người này, giận người kia, bất hòa người nọ...? Chung quanh tôi là địa ngục trần gian mà chính bản thân tôi dựng nên bằng thù hận, bằng ganh ghét. Tôi chỉ thấy chung quanh một màu đen u tối vây bủa ngột ngạt. Nhưng khốn nổi tôi lại thích như vậy hơn là được khai quang cho ánh sáng của yêu thương soi rọi. Một trong các lời cuối cùng của tử tội được xem ‘Đây là Người’ đã thốt ra: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”. Lạy Cha, con muốn làm người như chính Con Một của Cha đã làm người như chúng con. Xin cho con biết tha thứ và sống yêu thương như Con của Cha đã yêu thương con, để nhờ đó con có thể là người hơn.
“Đây là Người !”. Một con người không còn ra dáng người lại là tiêu chuẩn để nhân loại ngắm nhìn, noi gương nếu muốn là người sao ? Nhìn người cùi hủi, nhìn người tàn tật ăn xin, nhìn những người vô gia cư dơ bẩn, nhìn những người nghèo ít học ăn nói thô lỗ, nhìn những người tệ nạn...đang đầy dẫy trên thế giới này...họ có là ‘người’ không? Trong thâm sâu, tôi có nhìn nhận họ là anh chị em của tôi không? Hay chỉ là cái nhìn dửng dưng; hoặc tốt lắm là cái nhìn có chút trắc ẩn còn lại của cái gọi là ‘tình người’ ? Nếu nhìn vào kẻ được xem “Đây là Người !” là tiêu chuẩn để tôi có thể là người thì, tôi phải thay đổi cái nhìn khác về đồng loại. Không phải Đấng ‘là Người’ đó đã từng nói với tôi: “Khi xưa ta đói, khi xưa Ta khát, khi xưa Ta tù tội, khi xưa Ta đau yếu...” đó sao? Và hiện nay ‘Người’ vẫn đang tiếp tục nói với tôi qua chính những anh chị em đáng thương mà tôi gặp trên đường đời. Họ là những hiện thân sống động nhất của giá trị ‘người’ mà tôi cần trở nên. Nếu loại trừ họ, gạt họ ra bên lề cuộc sống của tôi, có lẽ tôi không nào trở nên người thật sự được. Bởi trong họ là chính hình ảnh của Đấng ‘là Người’ mà tôi mong muốn được trở nên. Tác giả thư Hipri xác nhận tư cách Đấng ‘là Người’: “Người trở nên giống anh em mình mọi đàng ngoại trừ tội lỗi.”. Người giống đến nỗi đi sâu vào tận cùng của mầu nhiệm tự hủy trên thập giá, để cho tất cả những ai có cuộc đời bi thảm nhất vẫn không bao giờ mất đi hy vọng được làm người đích thực cả.(x.Pl 2, 6 tt)
Thánh Phao-lô sau khi nhận được ánh sáng của Đấng Phục Sinh khai mở tâm trí, ngài đã chọn lựa dứt khoát; “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.”. Nhưng Đức Ki-tô nào mà ngài chọn như là mẫu mực cho đời mình noi theo? Hãy nghe lời tâm sự của ngài vào những năm tháng tù tội cuối đời: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian. Quả thật,...điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới.” (Gl 6, 14-15). Như vậy, thánh nhân đã nhận ra nơi dung mạo của Đấng bị đóng đinh, chính là nguồn hy vọng để cho ngài nguồn hy vọng ‘trở nên một thụ tạo mới’. ‘Thụ tạo mới’ hay còn có thể nói, đó chính ‘là người’ mới được tái sinh từ máu của Đấng đã chết trên thập giá đổ ra. Đấng đã bị khinh miệt khi bị gọi : “Đây là Người !”, thì giờ đây trở thành người mẫu cho cả nhân loại đang đi tìm một mẫu người đích thực.
Thánh Phao-lô đã khám phá con đường để trở nên con người mới, thụ tạo mới bằng băng qua hành trình ‘đóng đinh thế gian và bản thân vào thập giá Chúa Giê-su Ki-tô’. Ngài chia sẻ kinh nghiệm tuyệt vời đó cho tất cả những ai thành tâm mong muốn có được một dung mạo ‘là người’ mới, là nơi: “Đức Ki-tô bị đóng đinh.”. Khổ nỗi như Vị tôi tớ Chúa là Hồng y. Fx. Nguyễn văn Thuận chia sẻ: Thiên đàng thì nhiều người muốn vào, nhưng thập giá lại có rất ít người chịu khó vác ! Đây cũng là một chướng kỳ mà thánh Phao-lô đã nói khi người Hy lạp và Do thái từ chối đón nhận ơn cứu độ do Chúa Giê-su thực hiện bằng con đường thập giá.(x. 1Cr 1, 17-22). Riêng bản thân ngài và các tín hữu “thì chúng tôi lại rao giảng một Đức Ki-tô bị đóng đinh”. Bởi ngài không tìm được nơi đâu có dung mạo của một con người thực sự ‘là người’, ngoại trừ nơi Đấng bị đóng đinh. Đó là tất cả sự xác tín và hy vọng cho cuộc đời của Vị Tông đồ Dân ngoại vĩ đại.
Còn tôi thì sao ? Tôi đã thấy, nhưng tôi có dám dấn thân trên con đường thập giá để trả lại dung mạo ‘là người’ đích thực mà tôi muốn tìm không ? Xin Chúa ban cho con sức mạnh của niềm tin và ý chí kiên vững để con tiến bước trên con đường thập giá, mà Chúa đã chỉ cho con. Xin cho con luôn ngắm nhìn Đấng bị đâm thâu để con nhận ra dung mạo ‘là người’ mà con đang tìm kiếm mỗi ngày.
BTT.TD.Cù Lao Giêng
Page 3 of 5