Để trở thành cộng đoàn và thuộc về Dân Thiên Chúa, và đây chính là sáng kiến từ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Người thực hiện công việc này bằng một Giao Ước: “Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta là những người không phải chỉ thuộc dân Do thái mà còn thuộc các dân ngoại nữa.”(Rm 9, 24). Vì lẽ đó, lời đáp trả đầu tiên của chúng ta là lời đáp trả bằng tình yêu: yêu Thiên Chúa hết tâm hồn và cả trọn thân xác. Tình yêu này được diễn tả qua qua việc phụng tự và cầu nguyện.

Cầu nguyện trên căn bản vẫn là sự gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa như đôi bạn thân tình. Nếu không có việc cầu nguyện cá nhân thì, việc cầu nguyện cộng đoàn có thể sẽ không có ý nghĩa. Chúa Giê-su chính là gương mẫu cầu nguyện cho chúng ta. Người xem việc cầu nguyện vượt trên mọi công viẹc phục vụ khác: “Danh tiếng Người đồn xa và đám đông  tuôn đến với Người để nghe Người và được chữa lành, nhưng Người luôn luôn lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện một mình.”(Lc 5, 16-17).

Để trở thành một thành viên mang lại nhiều hoa trái cho cộng đoàn, mỗi người cần theo gương và tuân giữ những gì Chúa Giê-su dạy, cho dù bận rộn cách mấy. “Khi cầu nguyện anh em hãy vào phòng đóng cửa lại và cùng cầu nguyện cùng Cha của anh em là Đấng ngự nơi bí ẩn.”(Mt 6, 6). Vì thế mỗi người tìm cho mình phương pháp cầu nguyện và duy trì nó, đó là một trách nhiệm. Chính trong giây phút cầu nguyện chúng ta tìm thấy nguồn năng lực để gia tăng niềm tin của cộng đoàn khi cầu nguyện chung.

Với tư cách là thành viên của Giáo Hội, chúng ta thuộc về Dân thánh và đón nhận đặc quyền hiện hữu của mình: “Anh em là một dân tộc được tuyển chọn để loan truyền những kỳ công của Chúa.”(1Pr 2, 9). Đây là công việc đầu tiên mà các cộng đoàn tiên khởi đã thực hiện: “Họ ca tụng Thiên Chúa.”(Cv 2, 4-7). Họ cùng nhau ca tụng với tư cách là dân của Thiên Chúa: “Tất cả những kẻ tin đều đồng tâm nhất trí.”(Cv 4, 32). Sự hiệp nhất một trí một lòng này là điều kiện đem lại một giá trị cho việc ca tụng Thiên Chúa của cộng đoàn.

Một vấn đề khác rất đáng quan tâm; đó là, đặc ân về sự trung gian rất công hiệu của lời cầu nguyện. Hãy xem lời hứa của Chúa Giê-su: “Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ.”(Mt 18, 19-20). Điều kiện đã rõ ràng như chính lời hứa, chúng ta phải tập họp lại nhân danh Người, trong sự vâng phục lời Người; lời này hàm ý rằng, chúng ta đã lãnh nhận tình yêu của Người và trao ban tình yêu đó cho nhau cách cụ thể.

Vấn đề này được diễn tả rõ hơn trong (Ga 15, 7-17): “Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì anh em muốn gì anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý....Điều Thầy truyền dạy cho anh em là hãy yêu thương nhau.”. Điều này cho thấy, Thiên Chúa luôn đáp trả lời cầu xin của chúng ta qua Đức Giê-su trong cộng đoàn. Khi tôi nhận ra nhu cầu của anh em như là nghĩa vụ của tôi, tôi có trách nhiệm phải giúp đỡ họ, thì Thiên Chúa sẽ hành động như lời đã hứa. Thiên Chúa không hiện diện trong bất kỳ một tập thể nào chỉ đơn thuần nói về tình yêu mà không hề thực hành tình yêu. Nhìn kinh nghiệm của thánh Phao-lô khi đối diện với khó khăn, chúng ta sẽ hiểu hơn giá trị trung gian của lời cầu nguyện: “Thưa anh em, vì Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, và vì tình yêu của Chúa Thánh Thần, tôi xin anh em hãy nâng đỡ tôi trong những cơn gian nguy bằng cách cầu xin Thiên Chúa cho tôi.”(Rm 15, 30).

Lời cầu nguyện của cộng đoàn có thể là chính thức hay không, theo phụng vụ hay tự phát. Hành động thờ phượng quan trọng và chính thức là Thánh Thể và lời cầu nguyện chính thống của Giáo Hội. Khi những việc phụng tự này phát xuất từ kinh nghiệm đức tin của chúng ta thì đó là lời cầu nguyện có giá trị hơn. “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền Chúa đã chịu chết.”(1Cr 11, 26; x. 1Cr 10, 16-17). Ý thức sự cao trọng của Thánh Thể, nên chỉ có cộng đoàn hợp nhất mới có thể tham dự, như Chúa Giê-su dạy: “Vậy, nếu khi anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em khác đang có chuyện bất bình với anh em, thì hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.”(Mt 5, 23-24).

Dẫu biết các nghi thức của phụng vụ và các việc cầu nguyện chính thức là rất cần thiết. Tuy nhiên chúng ta dễ rơi vào hành động theo thói quen cách đơn thuần, mà không còn chú trọng đến ý nghĩa của việc phụng tự. Vì vậy việc cầu nguyện tự phát bảo vệ chúng ta khỏi rơi vào tình trạng đơn điệu nguy hiểm này; vì chúng không dựa vào một công thức hay từ sự hướng dẫn sách vở nào cả. Trong cầu nguyện tự phát, chúng ta có cơ hội để chia sẻ những ân huệ thiêng liêng đang tồn tại trong cộng đoàn, như: ơn nói tiên tri, ơn giải thích, ơn phân định...(x.1Cr 14, 26). Việc cầu nguyện này thường được diễn ra trong các cuộc tập họp để cầu nguyện và chia sẻ Lời Chúa.

Chúng ta còn thấy có những việc cầu nguyện, dành cho những công việc hay một nhu cầu đặc biệt nào đó, dành cho cá nhân hay cho cộng đoàn. Ví dụ cầu nguyện để tìm người thay thế cho Giu-đa và nhóm Tông đồ. (x.Cv 1, 24-26); hay cầu nguyện chọn người cho sứ vụ đặc biệt.(x. Cv 13, 2)

  Vài gợi ý:

1/ Sứ vụ bạn đang nhận có ảnh hưởng đến đời sống cầu nguyện của bạn không ?

2/ Bạn có thấy một thành viên nào trong cộng đoàn làm việc quá mức, đến độ không còn có thời gian cho việc cầu nguyện riêng không?

3/ Bạn có nghĩ rằng, có môt cách nào đó để cải tiến đời sống cầu nguyện của cộng đoàn không?

Lm Paul.

 

Trước hết chúng ta cần phải nhìn nhận rằng: không có một cộng đoàn nào gọi là “Hoàn Hảo” tại trần gian này cả. Ngay cả Giáo Hội với bản chất là Thánh Thiện thì, cũng là nơi qui tụ của những tội nhân (bình diện cơ cấu), của những con người mang kiếp lữ hành hướng về niềm hy vọng bước vào cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong mỗi cộng đoàn là nơi mà các thành viên cần nâng đỡ nhau, để trở nên mỗi ngày một tốt hơn hầu phát triển sự tự do để biết yêu thương của chính họ. Thánh Phao-lô đã khuyên: “Mỗi người chúng ta nên nghĩ đến những người anh em chung quanh mình, và giúp họ trở thành những người Ki-tô hữu vững mạnh hơn.” (Rm 15, 2)

Tuy nhiên thực tế cho thấy, rất nhiều lần trong cuộc sống chúng ta không thực hiện sự nâng đỡ nhau, do thiếu niềm tin và nỗ lực. Ngay trong các cộng đoàn tiên khởi được xem như mẫu mực, thì vẫn còn một quảng cách rất xa với sự hoàn thiện. Đó là những lỗi lầm mà cũng như họ, hôm nay chúng ta đấm ngực để sám hối: lỗi trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Tội trong tư tưởng:

Việc quá chú trọng và đặt lợi ích của bản thân lên trên lợi ích của người khác, là một trong những tội về tư tưởng. Thánh Phao-lô đề cập đến vấn đề này: “Anh em hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình, Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có tâm tình như chính Đức Giê-su Ki-tô.” (Pl 2, 3-5).

Thánh Phao-lô lên án mạnh mẽ tội trong tư tưởng, được cho là “nghi ngờ xấu cho nhau.” (1 Tm 6, 4). Ngài nối kết tội này với ghen tị, tranh chấp, cãi vã là hậu quả tất yếu. Gần với tội này là khuynh hướng xét đoán nhau, mà ngài đã lên án và xem đó là nguyên nhân hủy diệt cộng đoàn: “Đây cũng là lý do tại sao anh em đừng bao giờ xét đoán người anh em, khinh dể người anh em như một vài người trong anh em đã làm... Vậy chúng ta đừng xét đoán nhau nữa. Tốt hơn, anh em hãy xét sao để tránh gây cớ cho anh em mình phải vấp ngã.” (Rm 14, 10.13)

Thánh Giacobe nhắc nhở chúng ta, có hai điều dẫn đến sự bất đồng và những sai lầm khác có nguy cơ phá hủy cộng đoàn: “Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đó có xáo trộn và đủ mọi thứ xấu xa.”(Gc 3, 16). Tương tự, thánh Phao-lô nói: “Đừng có cạnh tranh hay làm vì hư danh.” (Pl 2, 3; x.1Cr 3,3; Ep 4,31-32).

**Tội trong lời nói:

Chúng ta hiểu đầu mối của mọi tội đều phát xuất từ tư tưởng. Nhưng một khi nó đã được biểu lộ ra bên ngoài, trước hết đó là lời nói, như thánh Phao-lô cảnh báo: “Nếu anh em đang cắn xé lẫn nhau, tốt hơn anh em hãy coi chừng, vì làm như thế anh em sẽ tiêu diệt cộng đoàn.” (Gl 5, 15). Ngài thừa nhận có những khác biệt tồn tại, những xung khắc nghiêm trọng cần được đưa ra giữa cộng đoàn để giải quyết, nhằm xây dựng sự hiệp nhất: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói...Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơloe cho tôi hay anh em có những xung khắc nghiêm trọng.” (1Cr 1, 10-11).

Chắc chắn nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta đã từng phàn nàn hay tranh cãi nhau với người khác. Thánh Phao-lô mời gọi: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng.” (Pl 2, 14). Với tâm tình và sự quan tâm của một người cha, thánh Phao-lô đã khuyên răn giáo đoàn Epheso về những chi tiết khác để thực hành trong cuộc sống: “Đừng bao giờ...nóng nảy giận hờn hay la lối thóa mạ và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.”(Ep 4, 31). Ngài cũng cảnh báo chúng ta chống lại sự lừa dối lẫn nhau, và đã đưa ra những điểm cụ thể để kiềm chế sự nóng giận: “Vì thế, từ bây giờ trở đi, anh em phải cởi bỏ sự gian dối và nói thật với nhau. Bởi vì chúng ta là phần thân thể của nhau. Ngay cả khi anh em nổi nóng, đừng có phạm tội; chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.”    (Ep 4, 25-26)

**Tội trong hành động:

Sau hết thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng, có một vài hành động chính là tội chống lại cộng đoàn; ngay cả những việc chúng ta làm, tự bản chất hoàn toàn hợp pháp: “Hãy coi chừng kẻo sự tự do của anh em nên dịp cho những người yếu đuối sa ngã...Như vậy, phạm đến anh em là làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ, là phạm đến Đức Ki-tô.”(1Cr 8, 9-12).

Và đối với hành động trả thù của một thành viên trong cộng đoàn, thánh Phê-rô và Phao-lô đề nghị chúng ta hai cách phản ứng: “Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại hãy chúc phúc, vì anh chị em được kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc.”(1Pr 3, 9). Và: “Dù sao, nguyên việc anh em kiện cáo nhau đã là một thất bại cho anh em rồi. Tại sao anh em chẳng thà chịu bất công, chịu thiệt thòi ?”(1Cr 6, 7).

**Buổi họp cộng đoàn:

Về các buổi họp cộng đoàn, chúng ta được mời gọi tránh tình trạng bè phái: “Tôi chẳng khen anh em đâu, vì những buổi họp của anh em không đem lại ích lợi gì mà chỉ gây hại. Thật thế, tôi nghe rằng, khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau, và tôi tin điều đó có phần nào đúng.”(1Cr 11, 17-18).

Anh cũng đừng vắng mặt trong các buổi họp, nhưng hãy cổ vũ nhau cùng tham dự: “Chúng ta hãy đến với nhau, làm sao cho người này thúc đẩy người kia sống yêu thương và làm những việc tốt. Chúng ta đừng bỏ các buổi họp như vài người quen làm, trái lại hãy khuyến khích nhau cùng đi.”(Dt 10, 24-25).

Nhiều lỗi lầm chúng ta tái phạm hết lần này đến lần khác, nhưng nhờ vào hành vi sám hối mỗi ngày trước Thánh Thể, và trong các buổi họp cộng đoàn, giúp chúng ta vâng nghe Lời Chúa, như thánh Giacobe dạy: “Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát.” (Gc 5, 16). Hành động khiêm nhường này sẽ góp phần rất nhiều trong việc tiến triển đức tin và sự tin tưởng lẫn nhau. Nó biểu lộ ước muốn được tha thứ của Thiên Chúa trong cộng đoàn bất toàn. (x. Gl 6, 1; 1Pr 4, 8).

Vài gợi ý:

1/ Có những tội nào trong hành động chống lại cộng đoàn, mà bạn muốn muốn thú nhận và xin tha thứ?

2/ Có những tội trong lời nói xúc phạm đến một thành viên khác và bạn muốn cầu xin sự tha thứ của người ấy?

Lm.Paul

Có thể nói: mọi ơn gọi là để nhằm phục vụ. Chính qua việc phục vụ tha nhân bằng thái độ tôn trọng yêu mến, ta mới trở thành người hơn. Không ai là một hòn đảo; mỗi người đều sống cho người khác và sống cho Chúa. Thánh Phao-lô đã trình bày vấn đề này cách rõ ràng: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ vẫn có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ ra nơi mỗi người một cách là vì ích chung.” (1Cr 12, 4-7). Vì vậy, mỗi người được mời gọi phục vụ Nước Trời giữa lòng thế giới mà họ đang sống.

Cộng đoàn là phục vụ :

Một cộng đoàn Ki-tô hữu không thể tự tồn tại một mình; nhưng là được mời gọi để phục vụ trong lòng Giáo Hội và thế giới, để Nước Cha được trị đến. Một cộng đoàn sống biệt lập sẽ không có được sự lành mạnh cả thể chất cũng như tinh thần. Mỗi cộng đoàn đều mang trong mình một sứ vụ tông đồ. Cộng đoàn phải được hiến dâng để mở rộng Nước Chúa trong thế giới cũng như cho mỗi thành viên. Cũng có những thành viên không có khả năng phục vụ bên ngoài, nhưng bằng việc phục vụ những thành viên khác trong cộng đoàn, họ đã chia sẻ một chứng ta chung về Nước Trời.

Thánh Phao-lô đã khen ngợi giáo đoàn Corinhtho về việc làm chứng cho Chúa Ki-tô: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Giê-su Ki-tô. Quả vậy, trong Đức Giê-su Ki-tô, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, đặc biệt trong chính lời giảng dạy và rao giảng của anh em. Thật thế, lời chứng về Đức Ki-tô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em.” (1Cr 1, 4-6)

Sứ vụ tông đồ và việc phục vụ:

Trong trích đoạn thư 1Cr 12, 4-7, ở đầu bài, ta nhận thấy: chính Chúa Thánh Thần đang làm chứng và hoạt động trong chúng ta; tất cả những ân huệ và sứ vụ đều là của Người. Công việc phục vụ thì bất tận, ta chỉ nói đến những việc phục vụ được thực hiện nơi các cộng đoàn tiên khởi, như: tình bác ái biểu hiện một niềm tin mạnh mẽ, ơn khôn ngoan để giảng dạy, ơn hiểu biết để hướng dẫn, ơn chữa bệnh, ơn làm phép lạ, ơn nói tiên tri, ơn phân định Thần Khí, ơn dạy dỗ, ơn làm việc bố thí – từ thiện, ơn sống khiết tịnh – gia đình, ơn làm tông đồ, ơn lãnh đạo...(x. Rm 12,3-8; 1Cr 7, 7; 12, 4-13;Ep 4,10 -13; 1Pr 4, 10-11;...)

Sự phân định:

Mỗi người đều được ban cho một số ân huệ nào đó, để thi hành sứ vụ tông đồ nhằm phục vụ. Mỗi người nhờ vào sự giúp đỡ của cộng đoàn để khám phá, phân định các đặc sủng và sứ vụ của họ. Cũng có những người do ngại hay nhút nhát, nên che giấu đặc sủng. Đây là dấu hiệu của những tâm hồn thiếu niềm tin và sai lệch; và đối với cộng đoàn, việc chôn giấu đặc sủng của một thành viên có thể đồng nghĩa với một tội đáng trách. Thánh Phê-rô cho biết, chúng ta là những người quản lý những ân huệ của Thiên Chúa. Vì vậy chúng ta phải sử dụng tất cả các ân huệ đó, với tâm tình hiến dâng, nhằm mưu ích cho cộng đoàn và cho Nước Trời. (x. 1Pr 4, 10 – 11)

Không một ai tự cho mình có quyền thực hiện các đặc sủng, các sứ vụ tông đồ; nếu trước hết không trình bày lên những vị lãnh đạo của Giáo Hội. Sau khi có sự phân định kỹ càng, cộng đoàn mới có thể gửi người ấy đi thi hành sứ vụ. Điều quan trọng là mỗi thành viên trong cộng đoàn cần hiểu, họ là người được cộng đoàn sai đi. Các thành viên được sai đi với đặc sủng-ơn riêng này, là chính Chúa Ki-tô đang làm triển nở, làm biểu lộ nhân tính của một người, sự tự do của người ấy để yêu thương thế giới.

Phục vụ bằng sự hiện hữu:

Ta thấy, có nhiều người có cùng chung đặc sủng hay khác nhau, vẫn có thể họp chung với nhau để phân định và sử dụng chúng nhằm phục vụ có hiệu quả hơn. Điều quan trọng luôn nhớ, việc phục vụ đầu tiên của cộng đoàn là: trở thành một cộng đoàn Ki-tô hữu để làm chứng về sự hiện diện của Đức Ki-tô phục sinh cho người khác, để trở nên dấu chỉ ơn cứu độ cho mọi người, để loan báo Tin Mừng. Vì đây chính là bản chất của Giáo Hội, là những gì mà Chúa Giê-su đã cầu xin: “Lạy Cha, xin cho tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con.” (Ga17,21).

Tự bản chất, chúng ta đã là một cộng đoàn trước khi trở thành một cộng đoàn thực sự bằng hành động; mặc dù, hai khía cạnh này bổ sung và giúp nhau phát triển.(x.Ep 4,12) Nếu không, chúng ta chẳng khác gì một nhóm Ki-tô hữu tìm kiếm sự thuận tiện để làm việc và sống chung với nhau, mà không có sự tương trợ Ki-tô giáo và sự phân định giữa chúng ta. Bởi chính yếu tố tương trợ Ki-tô giáo mới đem lại cho chúng ta sức mạnh để phục vụ sứ mạng tông đồ. Bất cứ một sứ vụ tông đồ nào, cộng đoàn phải luôn thực hành biện phân, đơn giản không chỉ là đặt vấ đê: “Có cần thiết không ?”; nhưng quan trọng hơn: “Có phải Thiên Chúa đang mời gọi cộng đoàn này phục vụ cho nhu cầu này, ở đây và bây giờ không ?”

Một cộng đoàn Ki-tô hữu dẫu được liên kết với nhau, nhưng nó vẫn luôn cần mở ra cho người khác. Không bao giờ để cộng đoàn biến thành một thứ ‘ghetto’, một nơi ẩn náu để tránh những phiền toái do người khác mang đến. Thánh Phao-lô nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tinh thần cởi mở hiếu khách: “Anh em hãy ân cần tiếp đãi khách đến nhà.”(Rm 12, 13; x. Cv 28,30) Còn thánh Phê-rô thì: “Hãy tiếp đón nhau mà đừng lẩm bẩm kêu ca.” (1Pr 4, 9). Nguyên việc chia sẻ những kinh nghiệm về đời sống cộng đoàn chúng ta về sự quan tâm, chịu đựng, chia sẻ cho nhau và ca tụng Thiên Chúa, cũng đã là một sứ vụ tông đồ đầu tiên và cơ bản rồi.

Phục vụ bằng hành động:

Có rất nhiều cách thức để phục vụ cụ thể bằng hành động, tùy vào hoàn cảnh môi trường mà cộng đoàn hiện diện, gặp gỡ tạo tương quan. Bởi thế các thành viên cần huấn luyện con tim có một trực giác bén nhạy cho sứ vụ phục vụ của mình. Lời Chúa Giê-su sẽ cho chúng ta nhận ra sẽ phải làm gì: “Khi xưa Ta đói các ngươi cho ăn, Ta là khách lạ các người tiếp rước,Ta trần truồng các ngươi cho mặc,Ta đau yếu các người thăm nom, Ta ngồi tù, các người đã đến thăm..”(Mt 25, 35-36)

Phục vụ bằng lời nói:

Cuối cùng là làm chứng bằng việc trao ban Lời Chúa cho người khác. Dơn giản chúng ta chỉ nói về Chúa Giê-su là Đấng Phục Sinh và những gì Người sẽ làm cho họ; nếu như họ đón nhận Người là Đấng cứu độ của họ. Hẳn nhiên chúng ta thực hiện điều này bằng chính chúng ta cầu nguyện cùng với và cho họ. Khi cầu nguyện chúng ta cần xác tín: “Lời Chúa sống động và hữu hiệu..”(Dt 4, 12)

Chúng ta cũng hiểu và xác nhận, các thánh đã cùng nhau xây dựng sự hiệp nhất trong việc phục vụ để: “Tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4, 12), thì lúc đó tôi mới thực sự trở thành thành viên của một cộng đoàn tông đồ.

Vài gợi ý:

1/ Bạn nghĩ gì về những ân huệ đặc biệt Chúa ban là để bạn phục vụ Giáo Hội ?

2/ Bạn cảm thấy thế nào về những sứ vụ hiện tại của bạn ? Bạn có thấy hạnh phúc trong các sứ vụ ấy không ?

3/ Bạn có cảm thấy cộng đoàn hậu thuẫn bạn trong sứ vụ; hay ngược lại ?

Lm.Paul 

Chúng ta biết con người có khả năng rất lớn về việc tự lừa dối chính mình. Nhiều lần chúng ta không nhận thức được tai họa trước mắt, và vẫn tiếp tục tiến bước với sự cả tin. Thiên Chúa đã cảnh báo chúng ta: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, không ai dò thấu được.”(Gr 17, 9)(Tri nhân, tri diện bất tri tâm !). Tuy nhiên với Ki-tô hữu nếu sống bằng Lời Chúa hướng dẫn, thì điều nay không còn phải lo ngại. Bởi Chúa Giê-su đã chỉ họ cách thoát khỏi hiểm họa này: “Ở đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ.”(Mt 18, 20). Sự tuân phục cộng đoàn là cách tốt nhất để lắng nghe Lời Chúa và được Chúa nghe.

Gương thánh Phao-lô:

Chúng ta có thể nghĩ rằng, khi Thiên Chúa gặp trực tiếp Saole trên đường Damas, thì Người cũng có thể làm như thế trong suốt cuộc đời của thánh nhân. Nhưng sự thực không là vậy, ngay cả biến cố Damas khi Saole xin Chúa hướng dẫn trực tiếp, thì Người chỉ cho ông hãy đến một cộng đoàn Ki-tô trong thành, và tuân theo lời họ hướng dẫn. “Bấy giờ, hãy trỗi dậy và đi vào thành, ở đó người ta sẽ chỉ cho ngươi biết phải làm gì.”( Cv 9, 6)

Thiếu sự tuân phục:

Chính Chúa Giê-su đã chỉ rõ vấn đề này khi nói, việc thiếu tuân phục cộng đoàn sẽ đẩy chúng ta ra khỏi Nước Trời: “Nếu nó không nghe cộng đoàn, thì xem nó như kẻ ngoại giáo hay quân thu thuế.”(Mt 18, 17)

Và không để cho bất kỳ một thành viên nào trong giáo đoàn, quên mất tầm quan trọng của những người khác, thánh Phao-lô đã nhắn nhủ dân thành Corintho: “Nếu có ai tự phụ mình thuộc về Đức Ki-tô, thì hãy nhận thức một lần nữa điều này: họ thuộc về Đức Ki-tô làm sao thì chúng tôi cũng vậy.” (2Cr 17, 7)

Sự hiệp nhất:

Cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi luôn được nhắc nhở rằng, chính Chúa Giê-su đã cầu nguyện: “Xin cho Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một.” (Ga 17, 23). Việc thực hiện sự hiệp nhất này là dấu hiệu để nhờ đó những người khác nhận ra sứ mệnh của Ngài: “Để thế gian nhận biết rằng chính Cha đã sai Con.” (Ga 17, 23b). Như vậy nền tảng của sự hiệp nhất của cộng đoàn luôn từ Ba Ngôi. Chúng ta có thể tham chiếu thêm một số bản văn, mà thánh Phao-lô đề cập đến sự hiệp nhất trong cộng đoàn, như: ( Pl 2,1-2; 2Cr 13, 3; Ep 4, 3-4...)

Chúng ta nên hiểu rằng, việc duy trì tinh thần hiệp nhất phải được thể hiện bằng hành động. Điều quan trọng là mỗi thành viên trong cộng đoàn phải biết quên mình, và nhờ đó biết cách sẵn sàng hòa hợp nhau: “Sau hết, tất cả anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở với nhau nhân hậu và khiêm tốn.” (1Pr 3, 8)

Chỉ khi vượt khỏi chính mình, chúng ta mới có thể hiểu các vấn đề và thực sự nghe những gì người khác đang cố gắng nói với chúng ta. Nếu không, chúng ta đang hành động bằng những phán đoán mang nặng tính con người. Có nghĩa là chỉ dựa vào bề nỗi của vấn đề và đánh giá những gì chúng ta nghe không phải bằng khả năng của lý trí, nhưng bằng những tư tưởng và định kiến đối với người nói. Chúng ta luôn tìm kiếm Chúa Ki-tô trong người khác, trong cộng đoàn và chỉ tìm kiếm Người mà thôi. Vì duy chỉ có Người mới có thể nói qua mỗi người chúng ta. (x. Cl 3, 9-11)

Sự vâng phục:

Mỗi người chúng ta cần tập có khả năng lắng nghe (x. 1Pr 1, 14). Đây chính là vâng phục đối với Lời Chúa được nói với chúng ta trong Kinh Thánh và trong cộng đoàn. Từ ‘vâng phục’  phát xuất từ hai từ Latin là “ob-audire”, có nghĩa là lắng nghe. Ngay những người phụ trách cộng đoàn cũng có thái độ lắng nghe trước khi đi đến một quyết định cuối cùng. Khi chúng ta nói điều gì và xem đó là điều Thiên Chúa đang nói với người khác; và cuối cùng là, biết tuân phục cộng đoàn về những gì được nói cho chúng ta, qua các phụ trách. (x. Dt 13, 17)

Với những người lãnh đạo trong các cộng đoàn Ki-tô hữu, Thiên Chúa nói: “Anh em hãy chăn dắt đàn chiên mà Thiên Chúa đã trao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.” ( 1Pr 5, 2-3 )

Người phụ trách thực sự tuân phục Thần Khí bằng việc lắng nghe cộng đoàn cách chân thành, là người xứng hợp trong việc hướng dẫn và nêu gương sáng cho mọi thành viên trong cộng đoàn noi theo. Khi có niền tin thực sự, chúng ta sẽ tuân phục trong bình an và với tình bằng hữu. ( x. Plm 6 )

Đồng tâm nhất trí:

Cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp, là nhờ vào sự đồng tâm nhất trí của mọi thành viên trước hoặc sau mỗi sự kiện. Ta thấy thánh Phê-rô cũng không dùng quyền để tự ý chọn người thay thế Giuda. (x Cv 1, 21 ); hay với các phó tế cũng thế (x.Cv 6, 3 ). Đặc biệt cộng đoàn này có được sự nhất trí cao trong các buổi họp cầu nguyện (x. Cv 5, 12 )

Sau khi nói với các vị thủ lãnh hay niên trưởng trong cộng đoàn,  hay cùng các thành viên khác, thánh Phê-rô đã nhắn nhủ: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.” (1Pr 5, 5). Có thể nói, cho dù tôi có vai trò nào trong cộng đoàn, thì như lời thánh Phao-lô nói: “Anh em hãy cố gắng làm điều thiện cho nhau cũng như cho mọi người.”, thì lúc ấy tôi mới thực sự tuân phục như Thiên Chúa muốn. (1Tx 5,15).

 

Vài gợi ý:

1/ Bạn có nghĩ rằng niềm tin của cộng đoàn này làm phát triển tình bằng hữu giữa các thành viên không ? Làm thế nào để tình bằng hữu được cải tiến ?

2/ Bạn có thể nghĩ về cách nào đó để cá nhân bạn có thể cải tiến việc thực hành sự vâng phục trong cộng đoàn không ? Bằng cách nào và bạn đã thực hành bao lâu rồi ?

3/ Bạn có nghĩ rằng sự lãnh đạo trong cộng đoàn này có thể được cải tiến không ? Bằng cách nào ?

Lm Paul

 

Cho đến khi chúng ta đạt đến cộng đoàn vĩnh cửu với Thiên Chúa thì, hiện tại chúng ta luôn là những khách lữ hành đang tiến về quê trời. Trong hành trình này, thánh Phao-lô đã nhắc nhở: “Mỗi người phải mang lấy gánh nặng của riêng mình.”(Gl 6, 5). Gánh nặng đó là sự ích kỷ và tội lỗi của bản thân, là những nỗi sợ hãi, là thiếu niềm tin, là hy vọng mong manh, là bệnh tật, là những hoài bão bị bóp nghẹt, là giấc mơ tan vỡ...còn nhiều thứ khác, tất cả đều là những gánh nặng của riêng mình.

Isaia đã loan báo về Chúa Giê-su, là Người sẽ mang gánh nặng của ta: “Chính Người đã mang đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta.”(Is 54, 4). Thánh Phao-lô cho biết là, trong thân xác phục sinh vinh hiển, Chúa Giê-su đã nâng đỡ chúng ta trong những cơn gian nan thử thách.(x.2Cr 1, 3-5). Vì vậy thánh nhân cũng đã khích lệ chúng ta: “Anh em hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật của Đức Ki-tô.”( Gl 6, 2; x.Ep 4, 2).

Lắng nghe với tình yêu:

Chúng ta không thể mang gánh nặng cho nhau, nếu như mỗi người không sẵn sàng trình bày và lắng nghe chân thành khi chia sẻ gánh nặng của mình cho anh chị em. Chia sẻ cho người khác vấn đề lo âu của mình không hề dễ. Bởi họ ngại một khi chia sẻ có được lắng nghe thực sự không, có được cảm thông và còn được quý mến nữa hay không...? Sự chịu đựng đích thực chỉ bắt đầu khi một người có đủ tình yêu để muốn lắng nghe, và dám dành thời gian để lắng nghe bằng cả con tim. Việc lắng nghe phải là thái độ thường xuyên của con tim trước mỗi thành viên cộng đoàn, nếu như họ dám liều để yêu cầu tôi chia sẻ gánh nặng với họ. Vì tự bộc bạch gánh nặng nghĩa là dám liều lĩnh, vì có thể bị hiểu lầm hoặc không còn được yêu thương nữa. Chỉ có sự quan tâm đích thực như Chúa Ki-tô trong tôi, mới có khả năng làm cho anh chị em của tôi dám liều để chia sẻ.

Trong cộng đoàn, tiếng kêu cứu dường như mất hút vào thinh không, bởi không có ai nhận ra hoặc biết lắng nghe. Tiếng kêu cứu có thể biểu lộ qua sự nóng giận, gây hấn, buồn chán, nụ cười ...Trước vấn đề này chúng ta cần nhìn lại bản thân xem: tôi có quá bận rộn để không còn thời gian lắng nghe; tôi có khuynh hướng xác định vấn đề của người khác trước khi tìm hiểu, vì không muốn mất thời gian...? Quả thực đây không là điều bình thường trong cộng đoàn, nếu như tôi có trái tim nhạy cảm, biết nhận ra những dấu hiệu được tỏ lộ để sẵn sàng lắng nghe những gì người khác lo sợ không dám tỏ lộ, vì e sợ người khác phản đối, cả khi họ phải oằn mình gánh nặng quá sức của mình.

Sự khoan dung:

Với trái tim đầy lòng yêu mến, chúng ta sẽ dễ đón nhận các thành viên khác trong cộng đoàn, đón nhận trọn vẹn con người của họ. Nói cách khác, sự khoan dung Ki-tô giáo là một trong những cách thế hiệu quả nhất để lắng nghe, và mang lấy gánh nặng của nhau. Để thực hiện được điều này chúng ta mặc lấy lòng khoan dung của Đức Ki-tô: “Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, giúp cho anh em biết đối xử cách nhân hậu với nhau theo gương Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ đó, anh em có thể hiệp nhất, hiệp ý để đồng thanh tôn vinh Thiên Chúa Cha là thân phụ của Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.” (Rm 15, 5-6)

Cuộc sống hôm nay khi sự thay đổi diễn ra nhanh chóng, con người có khuynh hướng ủng hộ đường lối không thỏa hiệp. Chúng ta phải công nhận thực tế có nhiều sự tương đồng cũng như những bất đồng; nhưng vẫn có thể hiệp nhất một lòng một trí để dâng lên Thiên Chúa lời tôn vinh. Đôi khi chúng ta thường lầm lẫn giữa hiệp nhất với đồng bộ. Thánh Phao-lô đã nhắc nhở chúng ta: “Người thì cho rằng: ngày này trọng hơn ngày khác; kẻ thì lại nghĩ: ngày nào cũng như nhau. Trong thâm tâm, mỗi người phải có xác tín. Ai để ý đến ngày này ngày nọ, thì làm thế để kính Chúa. Người ăn, thì vì Chúa mà ăn, bởi lẽ họ tạ ơn Thiên Chúa. Còn người không ăn, thì không ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Thiên Chúa...”(Rm 14, 5-6)

Sự tha thứ:

Đọc lịch sử dân Israel ta thấy họ là dân luôn phản nghịch hay chống đối, nhưng Thiên Chúa luôn trung tín với Giao ước đã chọn (cả với Giáo Hội) và luôn tha thứ. Việc tha thứ này cho thấy Thiên Chúa đang mang gánh nặng của chúng ta. Người không ngừng tái lập Giao ước để qua đó cho chúng ta niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, nên Người không ngừng mang lấy gánh nặng của những kẻ được Người yêu thương.

“Dù cho ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào từ bỏ chính mình.”(2Tm 2, 13). Vì vậy, nhờ việc tuân giữ Lời Chúa, chúng ta mang lấy gánh nặng của nhau như Chúa Giê-su đã dạy: “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em.” (Lc 6, 26-27).

Sự đón nhận:

Không phải cùng một lúc, mọi người đều có cùng niềm tin như nhau. Nếu thiếu sự quan tâm, chúng ta có khuynh hướng khước từ những người yếu kém niềm tin hơn ta. Có người đối với người khác thường tỏ ra dè dặt và thận trọng; trong những trường hợp này chúng ta cần mang lấy gánh nặng của nhau: “Anh em hãy đón nhận người yếu đức tin và đừng tranh luận với họ. Có người tin mình ăn được mọi thứ, có người vì đau yếu chỉ ăn rau. Người ăn đừng khinh rẻ người không ăn, còn kẻ không ăn cũng đừng xét đoán người ăn, vì Thiên Chúa đã đón nhận người ấy.”(Rm 14, 1-3)

Có nhiều gánh nặng không dễ gì nhìn thấy. Vì thế, để có thể chia sẻ gánh nặng với những người ấy, chúng ta cần lắng biết lắng nghe với sự quan tâm của con tim. “Không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đề lo lắng cho nhau. Nếu bộ phận nào đau thì mọi bộ phận cùng đau.” (1Cr 12, 25-26).

Sự nâng đỡ:

Nhìn vào trong thế giới (cộng đoàn), ta thấy có khuynh hướng chèn ép những người yếu đuối. Vì vậy hãy hết sức thận trọng để loại trừ lối sống này ra khỏi cộng đoàn. “Thưa anh em, chúng tôi khuyên nhủ anh em: hãy khuyên bảo người vô kỷ luật, khích lệ kẻ nhút nhát, nâng đỡ người yếu đuối và kiên nhẫn với mọi người.”(1Tx 5, 14)

Chỉ khi nào chúng ta nói với mọi người trong anh chị em mình những gì Chúa Giê-su đã nói với chúng ta: “Hãy đến với tôi hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng nề, tôi sẽ cho nghỉ ngơi lại sức.”(Mt 11, 28); lúc đó chúng ta mới hoàn toan trung thành với đời sống cộng đoàn.

 

Vài gợi ý:

1/ Trong hiện tại điều gì là gánh nặng nhất của bạn ? Nếu có, xin cho biết bạn đang cảm thấy thế nào ?

2/ Bạn cảm thấy có người nào trong cộng đoàn đang có gánh nặng cần được giúp đỡ, và bạn đang sẵn sàng chia sẻ với họ ? Hãy đến nói chuyện với người ấy.

3/ bạn có nỗi sợ hãi nào về tương lai của chính mình mà bạn muốn chia sẻ?