Bề trên các dòng nữ trên thế giới học hỏi về đề tài lạm dụng quyền lực

Hơn 100 nữ tu trên toàn thế giới đã tham dự một cuộc học hỏi qua kết nối video trên internet để đào sâu giáo luật về đề tài lạm dụng quyền lực.
 

Hồng Thủy - Vatican

Liên hiệp Quốc tế Bề trên Tổng quyền các dòng nữ đã đề cập đến đề tài lạm dụng quyền lực theo Giáo luật, “một chủ đề nóng hổi và hiện thực đối với Giáo hội và xã hội”, qua một cuộc học hỏi qua mạng internet (Webinar), được hai nữ tu luật gia là sơ Simona Paolini và sơ Tiziana Merletti hướng dẫn.

Minh bạch, hành động đúng, trách nhiệm

Trong phần chia sẻ của mình, sơ Merletti đã đào sâu vấn đề thi hành quyền lực và về "những vùng tối”; sơ nói: “Các biến cố mới đây trong Giáo hội, và đặc biệt là cuộc họp thượng đỉnh được tổ chức tại Vatican từ ngày 21-24.02 (về vấn đề lạm dụng tính dục trẻ em) đã nhấn mạnh đến một số từ khóa quan trọng trong cách thực thi quyền lực, ví dụ như minh bạch, hành động đúng, trách nhiệm.”

Về vấn đề lạm dụng quyền lực trong đời sống thánh hiến của các nữ tu, sơ Merletti nhấn mạnh: “Đây là một thời điểm mới để mở đôi mắt và vất bỏ đi những niềm tin sai lầm cũ: đó không phải là lúc để nản lòng mà là xắn tay áo.” Sơ đã nhấn mạnh đến những “vùng tối” khác nhau có thể xuất hiện trong những trường hợp khác biệt nhất, từ việc thành lập một tu viện đến quyền của bề trên tổng quyền trên các bề trên khác, từ việc bổ nhiệm vào các chức vị cho đến quyết định trên việc vào nhà tập và khấn tạm của các nữ tu tương lai, từ tự do lương tâm đến vai trò của quản lý.

Theo sơ Merletti, nhiều vấn đề được trình bày rõ ràng trong Bộ Giáo luật năm 1983 và vẫn còn hiệu lực, nếu được giải quyết tốt, thì những điều này sẽ trình bày cho thế giới một phong cách điều hành thanh thản trong sự minh bạch, can đảm trong việc thực hiện các hành động và khiêm tốn trong trách nhiệm. Sơ cũng cho biết là việc chuẩn bị cho các nhà lãnh đạo ngay từ thời kỳ đầu của việc đào tạo luôn là điều khẩn thiết.

Thẩm quyền trong Giáo hội không được hành xử cách tùy tiện

Trong phần trình bày của mình, sơ Paolini nói về các giới hạn và nhấn mạnh về việc Giáo luật chỉ rõ cách thế các giới hạn được xem là “các công cụ giúp đỡ cụ thể” cho việc ”thực hành tốt và đúng quyền lực”. Sơ giải thích, bản tính của Giáo hội giúp hiểu rằng “thẩm quyền trong Giáo hội không được hành xử cách tùy tiện, nhưng đồng hành với Giáo hội”, phương pháp “tập thể” cho thấy sự cần thiết phải đưa ra quyết định qua sự đồng thuận, và cuối cùng thẩm quyền đó phải có mục đích là làm tăng sự trung thành với ơn gọi. Sơ Paolini cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của “năng lực” trong các vai trò như vai trò của các quản lý. 

 

Nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2019-03/be-tren-dong-nu-lam-dung-quyen-luc.html

Write comment (0 Comments)

Ngày 30 tháng 7 nhiều bản báo cáo được báo Văn minh Công giáo đăng nói về lạm dụng quyền, áp lực trao đổi kinh tế, dùng tiền vào mục đích riêng trong các dòng tu nữ.

“Hiện nay vấn đề lạm dụng trong các dòng tu nữ là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức. Nó không chủ yếu ở dạng bạo lực tình dục và không liên quan đến trẻ vị thành niên; tuy nhiên, điều này không có nghĩa là vấn đề ít quan trọng và không có các hậu quả đáng kể. Qua kinh nghiệm mục vụ và qua các thảo luận đã có, chủ yếu đây là vấn đề lạm dụng quyền lực và lương tâm.” Trong bài “Lạm dụng quyền lực trong Giáo hội. Các vấn đề và thách thức trong đời sống nữ tu”, số ra ngày 1 tháng 8, tạp chí Dòng Tên Văn minh Công giáo tập trung vào các trường hợp trong đó “một số bề trên có thể là những người có tâm hồn quảng đại nhưng lại rất mong manh trước cám dỗ thao túng” dẫn đến việc “ban thưởng tùy tiện như tạo cơ hội đào tạo hay học tập cho ai trung thành và dễ bảo, gây bất lợi cho những người có một suy nghĩ khác” và “các hình thức áp lực để có được sự quản lý quyền lực vô hạn.”

Cuộc phỏng vấn với Đức Hồng y bộ trưởng Bộ Tu sĩ, Joao Braz de Aviz, được trích dẫn trong phụ trương “Thế giới, Giáo hội, Phụ nữ” của báo L’Osservatore Romano cho biết, các trường hợp “các bề trên tổng quyền một khi được bầu, họ đã không từ bỏ địa vị của mình”, vì thế họ muốn thay đổi hiến pháp để duy trì địa vị cho đến chết” và họ có khuynh hướng “bằng mọi giá kéo dài thời gian tại chức.” Linh mục Giovanni Cucci viết, trong một Dòng nữ (đang trong nhiệm kỳ) cũng cùng một nữ tu, sơ là ủy viên hội đồng trong vòng 12 năm, sau đó là bề trên tỉnh dòng 18 năm và sơ cũng được bầu làm tổng đại diện, bằng cách “dẫn đường” tổng tu nghị để tiếp tục cai trị trong những năm tiếp theo.” Câu hỏi đặt ra là “liệu guồng máy có được xem là hình thức đảm bảo các đặc quyền thường bị cấm với các thành viên khác, chẳng hạn, trong trường hợp này là giao các cộng đoàn cho người thân, người trong gia đình đến ở và được chăm sóc miễn phí không.” Trong một số trường hợp “các người trong gia đình được chôn cất trong nghĩa trang của Dòng” còn ở một dòng khác, bề trên không hỏi ý kiến ai, đã đưa mẹ mình vào cộng đoàn ở trong vòng hai mươi năm cho đến khi bà qua đời. Mỗi mùa hè, bề trên rời cộng đoàn để đưa mẹ đi nghỉ hè”. Có khi làm bề trên là “đảm bảo các đặc quyền độc quyền khác, như có được chăm sóc y tế tốt nhất, trong khi một nữ tu thường, ngay cả đi khám mắt hoặc nha sĩ nhiều khi cũng không đi được vì phải tiết kiệm tiền”. Các ví dụ đáng tiếc này liên quan đến mọi khía cạnh khác trong đời sống bình thường: từ quần áo đến đi nghỉ hè, nghỉ ngơi hay đơn giản chỉ là đi dạo, “mọi thứ phải có quyết định của bề trên (hoặc theo chướng khí tùy hứng) của bà.” Và nếu bạn xin một bộ áo quần tốt, bạn phải chờ Hội đồng họp, nếu không sẽ bị từ chối vì phải giữ đức khó nghèo. Cuối cùng, một số nữ tu phải xin gia đình và có thể họ sẽ biết, “tủ áo của bề trên có nhiều áo quần, mua mà không cần hỏi ai tiền của cộng đoàn, trong khi người khác không có áo quần thay đổi”. Báo Văn minh Công giáo nhấn mạnh, thật không may đối với một số nữ tu, đây là thực tế hàng ngày: một thực tế mà phần lớn họ không thể làm cho người khác biết vì họ không biết nói với ai hoặc sợ bị trả thù.”

Cũng vậy, “việc quản lý tài sản Dòng như tài sản cá nhân là một chủ đề đau đớn khác của một số Dòng nữ, trong đó có sự đồng lõa của bề trên tổng quyền và sơ quản lý (trên thực tế sơ quản lý làm suốt đời, không giới hạn tuổi) cho phép kiểm soát toàn bộ tài sản.” Và thông điệp đưa ra là “cai trị đồng nghĩa với đặc quyền, dù phải hy sinh những người yếu đuối nhất”, thay vì ở trong cộng đoàn, các nữ tu như sống trong nhà tù.” Với kết quả là ở các Dòng này, “không còn ơn gọi ở Ý trong hơn 50 năm. Đây có thể là một sự trùng hợp chăng?” Chính Đức Hồng y Aviz nhắc lại, “các trường hợp lạm dụng tình dục của các tập sinh bị các người đào tạo lạm dụng thì hiếm thấy như ở các Dòng nam, nhưng có thể, chính xác vì lý do này, nó còn nghiêm trọng và đau đớn hơn.” Cuối cùng tạp chí Văn minh Công giáo lưu ý “tình trạng bi thảm” của những người không che giấu được và phải từ bỏ đời sống tu trì: “Trong nhiều trường hợp họ không nhận được giúp đỡ nào, có khi còn bị ngăn chận đủ cách để không tìm ra chỗ ở.” Và thậm chí đã có “trường hợp làm mại dâm để kiếm sống.” Linh mục Cucci nói thêm: “Vấn đề đã trở nên nghiêm trọng , Đức Phanxicô đã quyết định xây một căn nhà cho những người, đặc biệt là người nước ngoài, không có nơi nào để đi.”

Marta An Nguyễn dịch

 

Nguồn: http://phanxico.vn/2020/07/31/lam-dung-quyen-trong-cac-dong-tu-nu/

Bài đọc thêm: https://www.laciviltacattolica.com/authority-and-abuse-issues-among-women-religious/

Write comment (0 Comments)

Ronald Rolheiser, 8-11-2014

Đức tin không phải là chuyện đơn giản có được. Không phải là chuyện chắc như đinh đóng cột. Mà đức tin như thế này: Có lúc bạn bước đi được trên mặt nước, và có lúc bạn chìm nghỉm như cục đá. Đức tin luôn có chỗ cho hoài nghi trước khi phục hồi sự xác quyết, rồi lại đánh mất lần nữa.

Chúng ta thấy điều này phản ánh sinh động trong câu chuyện Tin mừng về thánh Phêrô đi trên mặt nước. Chuyện như thế này: Các môn đệ vừa được chứng kiến một phép lạ lớn, là Chúa Giêsu cho 5000 người ăn từ năm chiếc bánh và hai con cá. Vừa chứng kiến một phép lạ, đức tin của họ đang rất mạnh. Không lâu sau, họ lên thuyền băng qua biển hồ. Nhưng Chúa Giêsu không đi cùng họ. Đi được một quãng, họ rơi vào cơn bão dữ dội và bắt đầu hoang mang. Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với họ. Lúc đầu họ sợ hãi vì tưởng Ngài là ma. Nhưng Ngài trấn an họ, khi từ giữa cơn bão, Ngài nói với họ, Ngài không chỉ là Giêsu mà còn là sự hiện diện của Thiên Chúa.

Ngay lập tức, Phêrô lòng đầy đức tin xin Chúa Giêsu cho ông cũng được đi trên nước như Ngài. Chúa Giêsu bảo ông cứ làm, và Phêrô đầy tự tin ra khỏi thuyền và bắt đầu đi trên mặt nước. Nhưng rồi, khi nhận ra việc mình đang làm là bất tự nhiên, ngay lập tức ông bắt đầu chìm, kêu gào xin cứu, và Chúa Giêsu đưa tay ra vớt ông lên.

Những gì minh trí ở đây là hai tâm điểm trong cảm nghiệm đức tin của chúng ta, cụ thể là, đức tin có lên có xuống, và đức tin mạnh nhất lúc chúng ta không nhầm lẫn đức tin với sức riêng của mình.

Đức tin có lên có xuống. Chúng ta thấy rõ điều này trong chuyện Phêrô đi trên nước. Lúc đầu, ông cảm nhận đức tin thật mạnh và tự tin đặt chân lên mặt biển và bắt đầu bước đi. Nhưng, gần như ngay khi nhận ra việc mình đang làm, ông bắt đầu chìm. Đức tin của chúng ta cũng y hệt như thế, có lúc đức tin cho chúng ta bước trên mặt nước, và có lúc chìm nghỉm. Hình ảnh Tin mừng về thánh Phêrô bước trên mặt nước đã tự nói lên tất cả.

Cho dù có thấy nản chí vì đức tin của mình dao động như thế, chúng ta vẫn có thể thấy an ủi nhờ những lời của Julian thành Norwich. Bà đã viết về một thị kiến của mình rằng: ‘Sau khi ngài cho tôi một niềm vui thiêng liêng tuyệt diệu nhất trong linh hồn: Lòng tôi hoàn toàn là một niềm chắc chắn không phai, được nâng đỡ mạnh mẽ và chẳng chút sợ hãi nào. Cảm giác này thật quá vui mừng và quá thiêng liêng đến nỗi tôi hoàn toàn bình an và thư thái, và chẳng có thứ gì trên đời có thể khiến tôi buồn lòng được. Việc này chỉ kéo dài được một lúc, rồi tôi bị thay đổi, tôi buông mình rơi vào sự buồn sầu lo lắng cho chính đời sống mình, khó chịu với chính mình đến nỗi tôi khó có thể đủ kiên nhẫn để sống.  … Và ngay sau đó, Đức Chúa Lòng Lành lại cho tôi lòng thanh thản và nghỉ ngơi trong linh hồn, trong một niềm vui sướng và an toàn, quá hạnh phúc và quá mạnh mẽ đến nỗi không một lo sợ, buồn sầu, đau đớn thể xác nào có thể làm tôi khỗ não. Và rồi tôi lại cảm thấy nỗi đau lần nữa, rồi vui mừng hoan hỉ lại đến, lúc sự này, lúc sự kia, cứ lần này đến lần khác.’ (Quyển Bày tỏ, chương 15)

Julian thành Norwich là một nhà thần nghiệm lừng danh với một đức tin ngoại hạng, nhưng cũng như Phêrô, bà cũng quá dao động giữa việc đi trên mặt nước và chìm nghỉm. Những cảm giác tin chắc của bà đến rồi đi.

Cũng vậy, đức tin tốt nhất là khi chúng ta không nhầm lẫn đức tin với nỗ lực của chính mình. Ví dụ, trong quyển Sự Thánh thiện, Donald Nichol đã chia sẻ chuyện về một nhà truyền giáo người Anh ở châu Phi. Lúc mới đến đây, nhà truyền giáo được mời làm trung gian điều đình giữa hai bộ lạc. Ông chẳng chuẩn bị gì  cho việc này, ngơ ngác và hoàn toàn không có kinh nghiệm. Nhưng ông đã dấn thân làm với đức tin, và ngạc nhiên thay, ông đã hòa giải được hai bộ lạc. Sau đó, phấn chấn vì thành công của mình, ông bắt đầu tự cho mình là một người điều đình và bắt đầu thể hiện mình là quan tòa cho các tranh chấp. Nhưng, cho đến bây giờ, những nỗ lực của ông đều vô nghĩa. Và điều thâm thúy là, khi ông không biết mình đang làm gì, nhưng ký thác hoàn toàn vào Chúa, ông có thể đi trên mặt nước, còn ngay khi đắm mình trong thành công, ông chìm nghỉm. Đức tin làm việc như thế. Chúng ta chỉ có thể đi trên mặt nước bao lâu chúng ta không nghĩ là mình đang làm việc này với sức riêng mình.

Nhà thần nghiệm Rumi, một thầy Hồi giáo Sufi, từng viết rằng chúng ta sống với một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi lại không biết, rồi lại biết. Đức tin là như thế, có lúc chúng ta đi trên mặt nước, có lúc chúng ta chìm nghỉm, và rồi lại đi trên mặt nước lần nữa.

J.B. Thái Hòa dịch

Nguồn: http://phanxico.vn/2018/03/17/buoc-di-tren-mat-nuoc-va-chim-nghim/

Write comment (0 Comments)

Chương 10 – Trích sách: Khát Khao Nên Thánh, Đi tìm một Linh đạo Kitô, The Holy Longing: The Search for a Christian Spirituality, Ronald Rolheiser

c. Một nền thần nghiệm cho thời đại chúng ta –

Cầu nguyện như là suy gẫm, chịu đựng căng thẳng

Nhưng cầu nguyện không đơn giản là nói ra lời cầu nguyện, cũng như thần nghiệm không đơn giản là vấn đề đi tìm Chúa đơn thuần qua hình thức cầu nguyện. Rốt cùng, thần nghiệm và cầu nguyện là điều mà chúng ta phải làm trong tất cả sinh hoạt của đời sống, chứ không phải chỉ trong các giây phút bên ngoài của cuộc sống. Thánh kinh đã nói cho chúng ta rằng “Hãy cầu nguyện liên lỉ.”  Nhưng làm sao để làm được như vậy?

Mỗi người có một câu triết lý khác nhau cho vấn đề này, tùy thuộc vào cách họ đọc dấu chỉ của thời đại, các chuyện nổi bật khác nhau của các thế hệ khác nhau. Đối với thế hệ chúng ta, với đặc thù riêng và điểm yếu tâm linh chúng ta, thần nghiệm mà chúng ta cần thiết nhất chính là suy gẫm trong tinh thần Phúc âm.

Vậy theo sách thánh, suy gẫm nghĩa là gì? Theo Phúc âm, suy gẫm không cùng nghĩa với những gì các triết gia Hy Lạp như Socrates, Plato, và Aristotle nhắm đến. Theo họ, suy gẫm là cho rằng cuộc sống sẽ không đáng sống nếu không suy nghĩ về nó. Có nghĩa là phải ý thức về mọi chuyện thay vì để cho hoàn cảnh cuộc đời đưa đẩy và mặc theo số phận. Đối với tâm thức Hy Lạp, suy gẫm là suy tư trí tuệ về những huyền nhiệm lớn lao trong cuộc đời.

Tuy nhiên, Kinh Thánh không phản ánh tâm thức Hy Lạp này. Trong các sách Tin Mừng, trình bày nhiều hơn cách hiểu của Do Thái, rằng suy gẫm không phải là vấn đề của suy tư trí tuệ cho bằng việc kiên nhẫn giữ suy gẫm đó trọn vẹn trong nội tâm với tất cả sự căng thẳng nó mang lại. Vì vậy, khi Đức Mẹ đứng dưới thập giá nhìn Đức Giêsu chết – Mẹ hoàn toàn không thể cứu Ngài hay chứng minh Ngài vô tội và thánh thiện –  lúc đó Mẹ suy gẫm theo nghĩa của Thánh Kinh. Mẹ đang căng thẳng tột cùng, không cách nào cứu vãn, chỉ đơn giản sống với hoàn cảnh đó. Đó chính là điều Kinh Thánh nhắm đến khi nói Mẹ Maria “giữ những điều đó và suy gẫm trong lòng.”

Vì vậy, theo Kinh Thánh, suy gẫm là đứng vững trước các mầu nhiệm lớn lao của cuộc đời như cách Mẹ Maria đứng trước những sự kiện khác nhau trong cuộc sống Chúa Giêsu, kể cả lúc Mẹ đứng dưới chân thập giá. Có niềm vui lớn lao, nhưng cũng có căng thẳng tột cùng. Thể thần nghiệm mà ngày nay chúng ta cần nhất để làm sống lại đức tin chính là thể thần nghiệm suy gẫm này, một thái độ bằng lòng chấp nhận gánh nặng của căng thẳng như Mẹ Maria đã làm.

Tôi muốn minh họa điều này bằng một ví dụ khá trần tục (tôi cũng xin thứ lỗi về điều này những vẫn dùng nó vì nó giúp phản ánh rõ ràng):

Khi còn ở trường đại học, một ngày nọ giáo sư đang giảng về tính dục và luân lý. Vấn đề thủ dâm được nêu ra, một sinh viên chặn họng giáo sư với câu hỏi: “Thầy có thủ dâm không?” Phản ứng đầu tiên của giáo sư là giận dữ trước câu hỏi xấc láo. Ông quay lưng lại, hướng về bảng đen, một cử chỉ cơ thể nói lên những gì ông không nói ra: “Anh đi quá quy luật khi nêu ra câu hỏi đó.”

Tuy nhiên, ông tự chủ lại được và quay về sinh viên đặt câu hỏi: “Phản ứng đầu tiên của tôi là nói cho anh biết, anh đã đi quá quy luật, và không việc gì anh phải hỏi câu đó trong lớp này hay bất cứ đâu. Tuy nhiên, vì đây là một lớp thần học luân lý và xét cho cùng, câu hỏi của anh cũng có chút giá trị nào đó, nên tôi xin trả lời: “Có, đôi khi tôi có thủ dâm, và tôi không tự hào về chuyện này. Tôi không nghĩ việc đó quá sai và cũng không nghĩ nó quá đúng. Tôi biết điều này mặc dù… Tôi sẽ tốt hơn nếu tôi không thủ dâm, tôi bị căng thẳng hơn, như tất cả chúng ta, ai cũng có căng thẳng trong cuộc đời này. Tôi tốt đẹp hơn khi tôi chịu được căng thẳng này.”

Dù câu trả lời đó đáng giá hay không đáng giá về mặt thần học luân lý, nhưng nó cũng cho chúng ta thấy đôi điều về thần nghiệm và rốt cùng giúp chúng ta giữ vững đức tin. Chúng ta tốt đẹp hơn khi chúng ta bị căng thẳng, hơn là lúc nào cũng tìm giải pháp dễ dàng. Bị căng thẳng, đặc biệt là căng thẳng lớn lao, chính là suy gẫm theo tinh thần Kinh thánh.

Chúng ta sẽ xem các ví dụ khác của vấn đề này trong các tác phẩm văn học lớn. Điều gì tạo nên một nhân vật vĩ đại? Điều gì làm cho tâm hồn cao quý? Thông thường chúng ta gán đức tính này cho một con người, khi họ không màng đến tiện nghi, nhu cầu, nỗi đau cá nhân, họ sẵn lòng hy sinh cho một lý do cao cả để chịu đựng một thao thức căng thẳng vô cùng trong một thời gian dài, không buông theo cám dỗ để giải quyết công việc hấp tấp, vội vã.

Vì vậy, ví dụ, chúng ta thấy tâm hồn cao cả đích thật của nhân vật nữ chính trong tác phẩm Lý trí và tình cảm của Jane Austen. Tại sao? Bởi vì cô đặt nhu cầu của người khác và quy luật thích đáng của mọi sự lên trên nhu cầu riêng của mình, bắt mình phải bị căng thẳng. Chúng ta thấy trong tác phẩm này, cũng như trong các tác phẩm cùng loại, chính điều tạo nên cao thượng, là trước hết phải biết có một vài thăng hoa. Nói chung, đặc nét của thăng hoa là phải trải nghiệm thăng hoa. Niềm vui lớn tùy thuộc trước tiên vào việc chịu đựng một căng thẳng lớn.

Và điều này đúng trong mọi lĩnh vực đời sống, không riêng gì với tình dục.

Sự cao cả của tâm hồn gắn liền với việc chịu đựng căng thẳng. Dĩ nhiên, hình ảnh gương mẫu lớn cho việc này là hình ảnh Đức Giêsu đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu. Ở đây, chúng ta thấy được mối dây cần thiết giữa đau khổ và đức tin, giữa việc đổ mồ hôi máu và việc giữ cam kết và công chính của chúng ta. Không ai giữ trung tín trong hôn nhân, ơn gọi, tình bạn, gia đình, công việc, hay giữ bản thân trung tín mà không có lần đổ mồ hôi máu. Tôi có một ví dụ mang tính minh họa cao:

Một vài năm trước đây, truyền hình Mỹ có một chương trình nhiều tập mang tên “Ba mươi điều” tập trung vào một số cặp vợ chồng trong độ tuổi ba mươi đang phải vật lộn với những căng thẳng trong cuộc sống nói chung và hôn nhân nói riêng. Trong một tập, có diễn tiến như sau: Đàn ông tụ tập ở một khách sạn trung tâm thành phố cho buổi tiệc toàn đàn ông, các bà vợ thì họp nhau ở một ngôi nhà để tổ chức buổi tiệc toàn các bà. Tại buổi tiệc đàn ông, một người (lập gia đình được vài năm và đang xa vợ) thấy mình bị cô quản lý khách sạn trẻ hớp hồn, người mà anh phải giao tiếp để lo đồ ăn, thức uống, âm nhạc… cho buổi tiệc. Cô quá hấp dẫn đối với anh và trước khi buổi tiệc kết thúc, dù chẳng có gì thật sự xảy ra giữa họ với nhau, nhưng cả hai cảm thấy như có ma lực từ ngàn xưa giữa họ. Đêm càng tối dần, lãng mạn càng cao.

Vì vậy, khi buổi tối kết thúc, cả hai đều làm cái điều đến tự nhiên. Khi mọi người đi về, cả hai chần chừ nán lại, họ không chắc sẽ nói gì với nhau, nhưng biết chắc có một cái gì đó đặc biệt đang xảy ra, và có một cái gì như muốn đi xa hơn. Họ che dấu tâm trạng bồn chồn bằng cách nói về việc dọn dẹp căn phòng, lúc nào trả tiền. Cuối cùng, giờ phút ấy cũng đến. Cả hai đã nán lại hết mức có thể nhưng đã đến lúc phải đi về. Khi người đàn ông còn lảng tránh bằng cách cám ơn cô về sự chu đáo của buổi tiệc, thì cô, không muốn mất cơ hội, nói với anh: “Em rất hân hạnh được gặp anh. Liệu thỉnh thoảng mình có gặp nhau lại không?” Người đàn ông chạm vào chiếc nhẫn cưới, cảm thấy tội lỗi vì đã không nói trước mình đã lập gia đình, anh đã làm một điều mà ngày nay, quá ít người trong chúng ta có đủ can đảm đạo đức để làm. Anh cười lịch sự và cho biết: “Cảm ơn em, nhưng tôi không nghĩ đó là một ý hay. Tôi xin lỗi, tôi đã có vợ… Đáng lý tôi nên nói trước. Tôi xin lỗi. Tốt hơn tôi nên về nhà. Tôi thật vui khi gặp em.” Và như Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong vườn, anh ra đi và về nhà với vợ.

Sau khi sống lại, trên đường Ê-mau, khi cố gắng giải thích cho các môn đệ (những người đã ngủ quên trong vườn Cây Dầu) hiểu mối dây liên hệ giữa việc bị căng thẳng với việc giữ con người thật của mình và những gì đòi hỏi chúng ta, Đức Giêsu hỏi họ câu này: “Việc đó không cần thiết sao?” Không có mối dây cần thiết giữa việc chịu căng thẳng và đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu với lòng trung tín sao? Qua câu chuyện “Ba mươi điều” (nói chung rất tiêu biểu cho việc đấu tranh giữ lòng chung thủy), rõ ràng rằng mối dây đó là cần thiết.

Trong thông điệp của Chúa Giêsu có một mô típ rất mạnh của chờ đợi, của suy gẫm, của khiết tịnh, của việc chịu đựng căng thẳng mà không chọn cách giải quyết hấp tấp. Khái niệm sống lại chỉ đến sau khi đã chịu đau khổ trong vườn Cây Dầu. Đối với đức tin cũng vậy. Khi Karl Rahner nói ngày nay chúng ta là nhà thần nghiệm hoặc là kẻ vô thần, cũng có thể được hiểu, nếu chúng ta không sẵn lòng đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu để trung tín với cam kết, với tính toàn vẹn của chúng ta, và những gì đức tin đòi hỏi – như nhân vật chính trong Lý trí và tình cảm của Jane Austen, như người đàn ông trong “Ba mươi điều”, và như Đức Giêsu và Mẹ Maria đã làm, thì chúng ta không giữ vững được đức tin đích thực.

Nhưng tại sao? Chịu đựng căng thẳng thì có giá trị gì?

Ở một mức độ hiển nhiên, chịu đựng căng thẳng, không tìm cách giải quyết hấp tấp, vì , rốt cùng, đó là ý nghĩa của tôn trọng. Qua việc không đòi hỏi phải giải quyết căng thẳng của chúng ta, để cho người khác được là chính mình, để cho Thiên Chúa là chính Thiên Chúa, và tặng vật là chính là tặng vật. Nhìn vào mặt trái của nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn. Khi không chịu được căng thẳng, chúng ta lân la đến những con người, đến xã hội bên ngoài, với thái độ cho rằng những gì chúng ta muốn phải là của chúng ta, bất chấp hậu quả, thì cuộc sống của chúng ta sẽ không phải là đời sống cho đi, mà là đời sống luôn hủy hoại. Chúng ta lúc nào cũng thiếu tôn trọng và thiếu khiết tịnh. Chỉ có những ai có thể chịu được căng thẳng của bản hòa tấu dở dang thì mới thật sự tôn trọng người khác.

Tuy nhiên, xét sâu xa hơn, giá trị thật trong việc chịu đựng căng thẳng cho tình yêu chính là một tiến trình cưu mang ấp ủ. Bằng suy gẫm như Đức Mẹ đứng bơ vơ vô vọng dưới chân thập giá, bằng chịu đau khổ trong vườn Cây Dầu, chúng ta có cơ hội biến xúc phạm thành tha thứ, giận dữ thành cảm thông, thù hận thành yêu thương. Minh chứng cho điều đó, chúng ta có thể thấy được trong đời sống của Chúa Giêsu:

Bị ghét bỏ, nhưng Ngài không ghét bỏ ai, bị căm giận, nhưng Ngài không căm giận lại, bị giết vì ghen tức, nhưng Ngài không ghen tức và làm hại ai. Ngài đã chịu trọn cơn giận giết người, ghen tương, căm ghét, nhưng Ngài không trút lại các điều đó lên đầu người khác. Thay vào đó, Ngài chịu đựng căm thù, giận dữ, ghen tương, xúc phạm đủ lâu để có thể chuyển hóa chúng thành tha thứ, trắc ẩn, yêu thương. Chỉ có ai đã từng đổ máu thực sự để giữ vững chân lý cho điều tối cao và tốt đẹp nhất mới có thể nhìn vào những kẻ giết mình mà nói:

“Xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Đó là những gì làm cho tâm hồn cao quý. Chấp nhận chịu đựng căng thẳng vì Thiên Chúa, tình yêu, sự thật, và nguyên tắc, đó là thần nghiệm mà chúng ta cần nhất ngày nay. Hầu như tất cả mọi thứ trong nền văn hóa mời gọi chúng ta khước từ căng thẳng, giải quyết ngay lập tức khi có thể, cho dù phải hy sinh các thiên hướng cao cả của chúng ta. Điều này đúng cho hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống đương đại, ngoại trừ các lãnh vực mà chúng ta có thể đổ mồ hôi máu để có cho bằng được như, sự nghiệp, sức khỏe và một cơ thể thon đẹp. Chờ đợi trong hụt hẫng và khiết tịnh không phải là điểm mạnh của chúng ta. Từ nỗi thất vọng nhỏ, như xếp hàng chờ ở ngân hàng, chờ xe buýt, cho đến các hụt hẫng lớn với các căng thẳng, các nhu cầu tính dục không được thỏa mãn, chúng ta cảm thấy thật khó để ở lại trong căng thẳng còn vướng mắc.

Jacques Maritain, triết gia lớn, người Công giáo, đã từng nói một trong những bi kịch thiêng liêng lớn là sẽ có nhiều người tốt thành người cao cả, nếu họ chỉ cần đừng hoảng hốt, đừng hấp tấp giải quyết các tình trạng căng thẳng đau đớn trong cuộc đời, thay vào đó họ kiên nhẫn chịu đựng lâu dài căng thẳng đó, như người đi trong đêm tối tâm hồn, cho đến khi những căng thẳng đó biến đổi và giúp tạo nên những gì cao cả nhất trong chúng ta, lòng trắc ẩn, tha thứ và yêu thương.

Nguyễn Kim Long dịch

(Còn tiếp)

Nguồn: http://phanxico.vn/2020/07/20/tru-vung-chinh-minh-trong-doi-song-thieng-lieng-4-10/

Write comment (0 Comments)

Chương 10 – Trích sách: Khát Khao Nên Thánh, Đi tìm một Linh đạo Kitô, The Holy Longing: The Search for a Christian Spirituality, Ronald Rolheiser

Điều răn cho cuộc Trường Hành 

1. Là một nhà thần nghiệm…

“Thời gian đi rất nhanh khi ai đó muốn thành nhà thần nghiệm hay người vô thần.”

a. Cần thiết cho một hành động đức tin cá nhân

Karl Rahner có uy tín khi cho rằng ngày nay người ta hoặc là nhà thần nghiệm hoặc là người vô thần. Ông nói đúng. Không ai trong chúng ta có thể tin vào thực tế rằng, một khi chúng ta sống trong nền văn hóa đã từng là Kitô, rằng chúng ta dường như sống giữa những người Kitô hữu, hay rằng chúng ta đã từng có đức tin. Không điều đơn lẻ nào trong số này đủ để hỗ trợ cho một đức tin Kitô trong thời đại chúng ta sống với thuyết vô tri, thuyết đa nguyên, tính thế tục, cám dỗ và xao nhãng. Chúng ta sống trong một tình trạng hậu Kitô giáo mà nền văn minh không cưu mang được đức tin trong lòng.

Vì vậy, là tín hữu thời nay là sống trong tình trạng đạo đức cô độc. Để hỗ trợ cho đời sống đức tin thời nay thì không thể theo số đông, đúng hơn là phải đứng ngoài tư tưởng thống trị, điều mà các nhà xã hội học gọi là nhận thức thiểu số. Nếu muốn có một đức tin vững mạnh thì không thể đơn giản cuốn theo dòng đi của một cộng đoàn đặc thù, hay ngay cả cộng đoàn của riêng họ.

Hai mươi lăm năm trước, khi giảng dạy tại Đại học Yale, Henri Nouwen đã đưa ra tuyên bố rằng, ngay cả trong các chủng sinh, thì ý thức chi phối họ vẫn là thuyết bất khả tri. Rốt cùng, không có chỗ cho Thiên Chúa nơi những người đang nói về tôn giáo và chuẩn bị cho sứ vụ Kitô.

Ngày nay, đó là sự thật căn bản cho hầu hết chúng ta. Sinh ra trong gia đình Kitô, được rửa tội, hoặc ngay cả là thành viên của cộng đoàn phụng sự cũng chưa đủ. Không điều đơn lẻ nào trong số này tất yếu mang lại cho chúng ta đức tin thật. Đó là điều hiển nhiên, không phải chỉ vì rất nhiều người (trong đó có con em chúng ta) đang bỏ đạo, nhưng vì, ngay cả trong giáo hội chúng ta, có đức tin vào Kitô giáo, theo lề luật đạo đức, học giáo lý Chúa Giêsu, theo tiếng gọi của Chúa cho công lý, theo một giá trị nhân bản khi ở trong cộng đoàn thì dễ dàng hơn là có một đức tin cá nhân vào Thiên Chúa hằng sống. Thật vậy, những gì chúng ta có thông thường không phải là linh đạo Kitô  mà là một ý niệm về linh đạo Kitô.

Như vậy có một thách thức quan trọng trong nhận xét của Rahner. Ngày nay, để có một đức tin vững mạnh, thì đến một lúc nào đó, người tín hữu phải có một đức tin sâu đậm và cá nhân. Hành động đó, ông cho ngang với việc là một nhà thần nghiệm, thật không may, việc này quá khó, do các thế lực tác động đã làm xói mòn nền văn hóa, xói mòn đức tin chung, chính vì thế nó không thuận tiện để chúng ta tạo cho mình một đức tin riêng.

Những thế lực chống đức tin này là gì? Chúng không phải là sản phẩm cố ý của vô thần. Ngược lại, chúng là những chuyện tốt xấu, trong chúng ta, quanh chúng ta, cám dỗ chúng ta bỏ cầu nguyện, không hy sinh, không dấn thân, không liên kết với cộng đoàn, không sẵn sàng chịu khổ để bền đỗ với lòng trung thực và cam kết của chúng ta, không chịu khó bỏ thì giờ, không chịu khó can đảm để thấm nhập sâu vào tâm hồn mình. Vì thế, các thế lực này không trừu tượng và không phải là những thế lực bên ngoài. Chúng ở trong căn nhà chúng ta, tạo cho chúng ta tiện nghi dễ chịu như khi chúng ta mang một đôi giày vừa chân. Những điều làm chận đứng đức tin là một loạt những điều vô hại trong đời sống hàng ngày, những điều mang tiện nghi đến trong cuộc sống: lười biếng, nuông chiều bản thân, tham vọng, bồn chồn, ghen tị, sợ căng thẳng, tiêu pha, tham lam của cải, ham muốn trải nghiệm, muốn có một phong cách sống nào đó, bận rộn và căng thẳng quá mức, mệt mỏi triền miên, ám ảnh với sự nổi tiếng, những giải trí liên tu bất tận với các chương trình thể thao, hài kịch, truyền hình. Chính đây là những thế lực phản thần nghiệm của thời đại chúng ta.

Nguyễn Kim Long dịch

(Còn tiếp)

Nguồn: http://phanxico.vn/2020/07/18/tru-vung-chinh-minh-trong-doi-song-thieng-lieng-2-10/

Write comment (0 Comments)