Biết bao ơn lành mà mọi giáo dân lãnh nhận từ bàn tay nhân lành của Mẹ Maria. Người ta thường đổ xô đến những đền đài Đức Mẹ như Thánh Địa La Vang, Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ Bình Triệu hay những đài Đức Mẹ Cần Thơ hay nơi các nhà thờ La Mã  … để khẩn cầu với Mẹ như là Đấng Trung gian với Chúa để chuyển cầu cho họ trong cuộc đời lữ hành này. Thông thường giáo dân hay cầu xin Đức Mẹ: “lạy Mẹ là Đấng Trung gian, là Trạng sư của chúng con…” Trước tiên, chúng ta biết rằng tước hiệu Trung gian của Đức Mẹ là một điều chưa được công bố. Và vấn nạn đã được đặt ra là: Đấng Trung gian, phải, chỉ có một Đấng Trung gian độc nhất giữa Thiên Chúa và chúng ta, Đấng đó chẳng phải là Đức Giêsu Kitô, Chúa của chúng ta sao? Lần đến với tác phẩm MARIA LÀ KẺ ĐÃ TIN của Cha Karl Rahner. Sau đây là bài suy niệm sâu sắc và mới  mẻ về Trinh Nữ Maria là Đấng Trung Gian của Ngài. Con xin tóm gọn những ý chính của chương 9 này để hiểu sâu hơn và sống tương quan với Đức Maria như thế nào cho có ý nghĩa mà không làm sai lệch trong cách tôn kính và yêu mến Đức Maria trong đời sống người kitô hữu hôm nay. 

Thật ra, đúng theo nghĩa đích xác thì Chúa Giêsu Kitô là Đấng trung gian độc nhất vô nhị: đó là giáo huấn của Thánh Kinh, là lòng tin căn bản của Hội Thánh Công giáo La Mã. Ngoài ra không còn một Đấng Trung gian nào khác cho phần rỗi, cho đức tin của chúng ta, cho dẫu là Đức Maria đi nữa thì cũng không có địa vị đó. Nếu theo nghĩa đích xác đó thì Chúa Giêsu Kitô là Đấng Trung gian duy nhất. Vì với tư cách Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu Kitô là nguyên lý tác động đặc biệt và độc nhất cho phần rỗi chúng ta. Thế nhưng trong những lời cầu nguyện, trong việc sùng kính, chúng ta lại tuyên xưng cách hồn nhiên vui sướng Đức Maria là Đấng Trung gian của chúng ta… Như vậy thì danh hiệu đó chắc cũng có một ý nghĩa gì khác với  việc chúng ta dựa theo Kinh Thánh để nói về Chúa là Đấng Trung gian độc nhất. Cùng một danh hiệu được dùng nhiều nghĩa khác nhau như thế, thật ra chẳng có gì lạ lùng cho lắm. Tiếng nói của loài người rất nghèo nàn, chỉ giới hạn trong một số chữ ít ỏi. Với những chữ quá thô sơ đơn mọn đó, chúng ta dùng để diễn tả một thực tại vô cùng tận của kế đồ Thiên Chúa cứu chuộc.  Như vậy, ý nghĩa thì quá súc tích mà lời lại quá ít ỏi, làm sao diễn tả hết được? Vì thế, chẳng ai mà không ngạc nhiên và bất bình khi chúng ta phải dùng cùng một tiếng để ám chỉ nhiều điều khác nhau, như việc Trung gian của Ngôi Lời Thiên Chúa hằng hữu làm người và việcTrung gian của Trinh Nữ Maria thuộc loài thọ tạo được tràn đầy phúc hậu.

Vậy Maria là Đấng trung gian theo nghĩa nào? Nếu chúng ta muốn hiểu làm sao Maria cũng có thể gọi được là Đấng trung gian của chúng ta, ngoài ý nghĩa trung gian đích thực độc nhất dùng để áp dụng cho Chúa Kitô, thì trước hết phải nhận rằng tất cả chúng ta đều liên đới đến phần rỗi của nhau, và do đó cùng chung chịu trách nhiệm, cùng gánh vác giúp đỡ nhau trong những lúc âu sầu khó nhọc cũng như những khi may mắn vui mừng. Mỗi người là môi giới,  là trung gian cho anh em mình. Không phải mỗi người chúng ta tự vươn lên để rồi kéo ơn cứu rỗi của Thiên Chúa xuống cho kẻ khác, nhưng nhờ ơn thánh và bởi công việc của Chúa, ơn cứu độ ở giữa chúng ta để mỗi người có thể lãnh  lấy và  trao tặng cho anh em mình. Không phải chúng ta tạo ra ơn đó, nhưng ơn cứu độ đã có sẵn, đến với chúng ta qua Chúa Giêsu Kitô và chỉ qua một mình Ngài, ơn đó chỉ đến trong cộng đồng loài người mà thôi. Và theo nghĩa đó, chúng ta là những kẻ làm trung gian để đem ơn phần rỗi cho  anh em. Cũng vậy, trước tòa phán xét của Thiên Chúa, mỗi người sẽ trả lẽ về nghĩa vụ phải chu toàn với anh em mình,với những khả năng, tài đức, hoàn cảnh, ơn thánh mà chúng ta đã lãnh nhận. Tất cả mọi người đều là  trung gian cho nhau.

 Vậy Trinh nữ Maria quan trọng và cần thiết thế nào trong vai trò làm trung gian cho chúng ta hiện bây giờ, lúc mà Maria đang được mọi vinh quang, mọi hạnh phúc trong tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa Ba Ngôi? Chức vụ làm trung gian của Maria hiện bây giờ không thể nào khác với lúc Người đang còn ở dưới thế trần này, lúc Người còn ở trong lịch sử cứu độ của nhân loại. Bởi vì đối với Maria, đời sống hạnh phúc vĩnh cửu chỉ là hiệu quả của đời trần gian trước khi Người sinh thì. Tất cả mọi điều gì có ý nghĩa đối với Người ở nơi trần gian này, thì cũng vẫn có giá trị vĩnh tồn, bất biến; một khi qua cái chết, Người được bước vào vinh quang thực sự trên trời, để hoàn tất sứ vụ của Người. Vì trên trần gian này, trong lịch sử cứu độ nhân loại, không phải chỉ có một mình Chúa Cứu Thế, nhưng có những người được cứu rỗi, không phải chỉ có một mình Con Thiên Chúa, nhưng còn có những người cộng tác viên của Thiên Chúa. Trong lịch sử cứu rỗi, không một người nào có thể giữ vai trò quan trọng và quyết định cả lịch trình ơn cứu rỗi cho bằng Maria: vừa là Đấng trinh toàn, vừa là Mẹ của mình. Chính vì chúng ta và cho phần rỗi chúng ta mà Maria đã nhận ơn cứu độ từ Thiên Chúa.         

Lời xin vâng của Trinh nữ Maria là một lời độc nhất định đoạt cả một lịch sử nhân loại. Người đặt trọng tâm và lời “xin vâng” đó, lời mà Người muốn cho phần rỗi chúng ta qua mọi thời đại phải tùy thuộc vào một cách trực tiếp đặc biệt và độc nhất vô nhị. Như thế Thiên Chúa muốn ban phần rỗi cho chúng ta cũng phải để ý nhờ đến Maria và nhờ đến thực tại vĩnh viễn của Maria. Khi Thiên Chúa nhìn đến Maria, thì cũng nhìn nhận Maria ơn phúc của Ngôi Lời nhập thể và chỉ muốn nhìn nhận chúng ta qua Maria, Vì Thiên Chúa yêu mến Maria với tư cách Người là Mẹ của con yêu dấu mình.Vậy chúng ta có thể thẳng thắn không sợ sai lầm để nhận nơi Maria, theo như công việc của Người trong lịch trình cứu chuộc, đối với cộng đoàn các thánh, Maria là Đấng Trung gian cho tất cả, là Đấng Trung gian ban phát ơn thánh. 

Chúng ta vui  sướng đặt niềm tin nơi Maria, có thể điềm nhiên tin cậy vào phương thế của Hội Thánh  để hiểu biết và nhận thức trong đời sống đạo đức của chúng ta sự khác biệt giữa chức vụ Trung gian của Chúa Giêsu Kitô và sứ mạng Trung gian của Maria. Sự khác biệt đó, có lẽ những ý niệm thần học cho dầu vững chãi đến đâu, cũng không giải nghĩa được, mỗi người cảm thấy và nhận là thế… Trong lời cầu nguyện, mỗi người cảm thấy Maria đầy tràn ơn phúc có một liên quan gì mật thiết với mình?  Tâm tình đó sống động và ăn sâu vào tâm hồn của chúng ta nhưng không thể diễn tả ra hết được, tình yêu chân thật tha thiết sâu đậm đối với Mẹ Maria càng ngày càng tăng, càng hiệu lực , đâm rễ sâu trong lòng khiêm nhu và trung tín. Đó là một ơn chúng ta cần phải khẩn nài cho được. Vì nếu Maria là Đấng Trung gian Thiên Chúa ban cho ta, nếu chính Maria ở trong Thiên Chúa và nhờ Thiên Chúa, thu nhập cho ta ơn thánh bằng mọi cách. Ơn đó chính là Chúa Giêsu Kitô, thì  ta phải đem hết tất cả tấm lòng để yêu mến và tôn sùng Đức Maria.    

Những lúc mệt mỏi rã rời trong cuộc sống hiện tại, những lúc tối tăm bao phủ ánh tương lai, những lúc nặng trĩu u buồn của quá khứ, những lúc hụt hẫng đến độ không còn biết nương tựa vào ai, ta hãy chạy đến với Mẹ. Đó chính là những giây phút êm ái, ngọt ngào, hạnh phúc bên cạnh Mẹ. Với tấm lòng từ bi nhân hậu, Mẹ sẽ là nguồn an ủi, nâng đỡ và giúp sức chúng ta trong mọi cảnh huống của cuộc đời đầy thử thách chông gai này. 

(Tóm lược tác phẩm "Maria là kẻ đã tin" của Cha Karl Rahner)

Sr. Goretti Thu Trinh

TD Cần Thơ

 

Write comment (0 Comments)

Mùa Chay là mùa của màu tím: màu áo tím của Linh Mục khi dâng Thánh Lễ; màu tím trên Thánh Gía đồi Golgotha…Màu tím mùa chay không phải là màu tím bình thường của một bông hoa hay của buổi chiều hoàng hôn lãng mạn trong thơ ca, văn học. Màu tím mùa chay là màu tím của tâm hồn, cái buồn của màu tím ấy không lãng mạn, không thất vọng, nhưng là sự trở về sâu xa từ nội tâm, là màu tím của hy vọng ơn cứu rỗi.

Mùa Chay nhắc nhở con người dừng lại bên những bận rộn, toan tính của cuộc sống, dừng lại bên “vệ đường”của cuộc hành trình để tìm về chính mình, tìm về cội nguồn của ơn cứu độ.  Mùa chay không đơn thuần chỉ là dịp thuận tiện để xét mình, để thấy con người đầy xấu xa, tội lỗi rồi từ đó sợ hãi, trốn tránh tình yêu Chúa. Thế nhưng, mùa chay mời gọi chúng ta hãy nhìn và chiêm ngưỡng tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa: hình ảnh người cha nhân hậu giang vòng tay ôm đứa con đi hoang vào lòng (Lc 15,11-32); người chủ chiên sẵn sàng bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm cho được một con chiên lạc. Tìm được rồi, người ấy liền vác nó lên vai và vui mừng trở về (Lc 15,4-7). Hai hình ảnh trên làm cho chúng ta được an ủi phần nào khi nhìn rõ con người đầy tội lỗi của mình. Chúa không sợ bị chúng ta phản bội.  Nhưng Chúa biết, nếu chúng ta cứ vướng trong tội lỗi, chúng ta sẽ đánh mất hạnh phúc và ân sủng mà Chúa ban ngay “từ thuở tạo thiên lập địa.” Cũng thế, người cha trong dụ ngôn không buồn vì đứa con hư hỏng lấy hết tài sản, nhưng buồn vì sợ nó ra ngoài sẽ không được sung sướng như khi ở nhà, rồi cuộc đời có bao dung với nó khi lầm lỗi không?

Trở về với chính mình không phải là vạch tìm tội lỗi, cũng không phải là sợ bị trừng phạt, nhưng là nhìn đến lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đặc biệt nơi Bí Tích Giải Tội. Khi so sánh tội của Phêrô và Giuđa, trong cuốn “Người con hoang đàng trở về”, cha Henri J. Nouwen đã nói: “Giuđa đã phản bội Chúa, Phêrô đã chối Chúa. Cả hai đều là những đứa con hư hỏng. Vì đã không tin mình luôn là con Thiên Chúa, cho nên Giuđa đã treo cổ. So sánh với người con hoang đàng, ông đã bán thanh gươm của địa vị làm con. Phêrô, trong cơn tuỵêt vọng vẫn dựa vào được địa vị làm con và đã trở lại khóc lóc thống hối. Giuđa chọn cái chết, Phêrô chọn sự sống.” (tr.17).  Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần có lần đã viết:  “Yêu là tin tưởng, là không sợ hãi. Có yêu mới có tin và có tin thì mới yêu.”

Những ngày của mùa chay, đặc biệt là những ngày cuối cùng mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu sâu thẳm của Chúa.  Tình yêu tự hủy hiến trót mình cho nhân loại trong bữa tiệc ly chiều Thứ Năm Tuần Thánh.  Tình yêu quằn quại trên thánh giá chiều Thứ Sáu Tử Nạn mà nhân loại nỡ quay lưng mỉa mai, chế giễu: “Hắn đã cứu người khác thì hãy tự cứu lấy mình đi.” (Lc 23, 35). Tình yêu trao ban cả người mẹ yêu quý nhất cho nhân loại: “Đây là mẹ con.” (Ga 19,27a).  Nói về tình yêu Thiên Chúa, Cha Henri nhận xét: “Đó là tình yêu đầu tiên và và vĩnh cửu của một Thiên Chúa vừa là cha vừa là mẹ.  Đó là nguồn cội của tất cả tình yêu nhân loại, ngay cả tình yêu giới hạn nhất.  Tất cả cuộc đời giảng dạy của Chúa Giêsu nhằm mục đích: mạc khải một tình yêu không cạn, không giới hạn.” (tr.155)

Mùa chay còn mời gọi mỗi người chúng ta vác lấy Thánh Giá của mình và bước đi với Đức Giêsu lên đồi Canvê. Nói đến thánh giá, ai trong chúng ta cũng sợ và thường hay chối bỏ nó.  Tôi cũng đã từng đi tìm một thánh giá khác, những tưởng nó sẽ phù hợp với mình, hóa ra không phải vậy. Có thánh giá quá nặng tôi vác không nổi; có thánh giá quá dài tôi phải kéo lê; có thánh giá quá ngắn hay quá nhẹ. Cuối cùng, tôi hiểu rằng: chỉ có thánh giá của chính mình mới vừa sức mình mà thôi.

Đêm nay, quỳ dưới chân thánh giá, ngước nhìn lên nơi Đấng yêu thương tôi đã bị treo lên một cách nhục nhã. Tôi khóc, khóc cho một đời sống đầy tội lỗi, khóc vì đã dại khờ chối bỏ thánh giá. Thánh giá là một gia sản quý báu cho những ai biết chấp nhận đón lấy và vác đi trong tin tưởng. Ai đó đã rất hay khi vẽ lên ý tưởng một cành hoa hồng vươn mình trên thánh giá.  Nói như Cha Thái Nguyên thì: “Con đường tình yêu là con đường thập giá nở hoa. Đó là con đường trải hoa hồng, nhưng dưới những cánh hoa hồng là sự ẩn nấp của nhng gai nhọn đâm thâu gây nên thương tích.” (Những cánh hoa tâm linh, tr.90). Con đường tìm về với Chúa dù có gai chông, sỏi đá, nhưng nếu can đảm bước đi trong tin tưởng và phó thác thì ở cuối chặng đường sẽ là bến bờ của hạnh phúc, của tình yêu. Và rồi, mùa chay cũng không còn là màu tím của tang tóc, của buồn bã, nhưng là mùa của hy vọng, của chờ đợi trong tin yêu- chờ đợi một nguồn ơn cứu độ đang tuôn chảy dạt dào trên nhân loại.

Hoa Tím - TD Cần Thơ

Write comment (0 Comments)

Đó là tựa đề một bài hát mà tôi rất thích nghe, bỡi vì nó nhắc tôi biết phải sống ngày hôm nay như ngày cuối cuộc đời mình, để khi ra đi đột ngột mình không còn gì phải nuối tiếc.

Mấy hôm nay tôi cứ nhận tin người này mất, người kia mất, có những người tôi biết, có những người tôi chỉ nghe tên, và có những người tôi chưa hề nghe gì về họ….họ ra đi một cách nhanh chống, đột ngột…đa số là còn trẻ, và chắc chắn là họ cũng không ngờ ngay hôm nay là ngày cuối cùng của đời họ như thế đâu. Người đi trong bất ngờ, người ở lại cũng trong bất ngờ…không hề có sự chuẩn bị nào….bao tiếc nuối…

Nhất là mấy tháng nay dịch bệnh phổi corona đang lan tràn khắp thế giới, con số người chết và nhiểm bệnh tăng lên hàng ngày. Ngày càng có nhiều chứng bệnh lạ, nguy hiểm…thiên tai xảy ra khắp nơi trên thế giới đó đây…mỗi ngày có bao nhiêu người ra đi không lời từ biệt….chẳng ai biết giây phút nào mình sẽ ra đi lần cuối. Và hình như ai cũng sợ cái lần đi không báo trước ấy…và có sợ thế nào cũng sẽ tới.

Thế giới chúng ta đang sống, hằng ngày diễn ra bao nhiêu là tai ương, tai họa, tai nạn…..đây đó khắp nơi. Đó là dấu chỉ cho ta thấy cần phải sẵn sàng, phải chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng của chúng ta. Hãy sống như thể hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời trên dương gian này, để tôi bớt đi những cái tham, sân, si….để cho lòng mình nhẹ nhàng, sống vui vẻ bình an với mọi người.

“Nếu chỉ còn một ngày để sống” tôi sẽ làm gì? Tôi sẽ nhốt mình trong phòng khóc, buồn, tiếc nuối….hay tôi cứ sống hết mình vì người khác, vì giây phút hiện tại Chúa ban cho tôi?

Ngay ra đi lần cuối tôi không hề biết trước là ngày nào, ngày mai, ngày mốt, 1 năm hay vài chục năm nữa… tôi không hề có khái niệm nào về nó. Vậy cho nên tôi coi mỗi ngày là ngày cuối, tôi phải luôn sẵn sàng cho tiếng gọi ấy. Tôi tập buông bỏ đi những điều không vui, những nặng lòng, những ghanh đua, ghen ghét, để tôi biết yêu thương hơn…nhìn tích cực hơn về người khác, để giây phút ấy đến tôi vui ra đi, và mọi người vui vẻ, hạnh phúc khi nhớ về tôi.

 

Nếu chỉ còn một ngày để sống, muộn màng không lời hối lỗi chân thành

Buồn vì ai ta làm ai buồn, xin bao dung tha thứ vì nhau

Nếu chỉ còn một ngày để sống, chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp

Phải chăng ta có lúc vội vàng, nên ra đi chưa được bình an”  (Hoài An)

 

Hãy luôn tâm niệm rằng mỗi ngày là “ngày cuối của tôi” để tôi sống trọn vẹn và ý nghĩa nhất từng giây phút Chúa trao cho tôi hôm nay.

 

Mây Trắng - TD Cần Thơ

Write comment (0 Comments)

I. GIÁO LÝ CÔNG GIÁO 

 

  • Số 306: “Thiên Chúa là chủ tối cao của dự án của Ngài. Nhưng để thực hiện dự án này, Ngài cũng dùng đến sự cộng tác của các tạo vật.”
  • Số 307: “Đối với con người, Thiên Chúa còn ban cho có thể tự do tham dự vào sự quan phòng của Ngài, bằng cách trao cho con người trách nhiệm “khuất phục” và làm chủ trái đất. Như Vậy, Thiên Chúa cho con người làm những nguyên nhân thông minh và tự do để hoàn thành công việc sáng tạo, hoàn tất hòa điệu của vũ trụ vạn vật hầu mưu ích cho mình và đồng loại của mình. Con người thường là những hợp tác viên vô ý thức của Thánh Ý Thiên Chúa, nhưng con người cũng có thể chú ý hợp tác vào kế hoạch của Ngài bằng hành độnglời cầu nguyện của mình và cả bằng những đau khổ của mình. Khi đó họ trở thành “những cộng tác viên của Thiên Chúa với đầy đủ ý nghĩa và cộng tác viên của Nước Trời.”

 II.  CHA GIOAN MARTINO MOYE NÓI GÌ?

 

“Chúa Cứu Thế cũng dạy chúng ta trong Tin Mừng rằng: “khổ ngày nào đủ cho ngày ấy, và chúng ta chớ lo tới ngày mai.” (Mt 6,34)

Điều đó không ngăn cản người ta có những dự trữ kịp thời, thu góp lúa vào mùa gặt là hợp với trật tự Quan Phòng. Điều đó cũng không ngăn cản các con khi thiếu thốn những gì cần để sống thì có thể đi kiếm ở đâu đó…Tuân theo Chúa Quan Phòng là đón nhận những phương kế Ngài dành cho.” (Hướng Dẫn tr.80)

 

  • Lạy Chúa, Chúa hằng tín nhiệm và sử dụng triệt để mọi cố gắng của chúng con trong mầu nhiệm cứu độ của Chúa. Xin ban ánh sáng để chúng con khám phá những công trình của Chúa qua những biến cố lien quan đến những trách nhiệm của chúng con.

Xin cho chúng con long cậy trông vững vàng, để chúng con có đủ can đảm cộng tác với Chúa ngay giữa những gian nan và thất bại. Amen.

 

 III. THỰC HÀNH:

 

Là “cộng tác viên” của Thiên Chúa, bạn sống như thế nào?

  • Bằng lời cầu nguyện,
  • Bằng chính đời sống đức tin, cách giữ đạo,
  • Bằng sự phục vụ miễn phí của bạn đối với người nhà, người quen thân…

 

Lạy Chúa, xin cứ gửi con ra đồng lúa,

Để đem cơm cho người đói đang chờ,

Và đem nước cho người họng đang khô,

Đem thuốc thang cho người đang đau ốm,

Đem áo quần cho người đang trần trụi,

Đem mền đắp cho người rét đang run. 

(Nguyễn Công Đoan, Sj)

 

Sr.M.Flore Võ Thị Vị

TD.Cù Lao Giêng

Write comment (0 Comments)

Cha tôi…!

Trong cuộc sống đã bao giờ bạn cảm thấy tự hào và hãnh diện khi nói về một ai chưa? Về thần tượng, về một người đã làm thay đổi cuộc đời bạn, một người luôn là động lực cho bạn mỗi khi bạn gặp khó khăn thử thách và muốn bỏ cuộc. Tôi có một người như thế để nói tới, một người đàn ông duy nhất trên thế gian này yêu thương tôi cách vô vị lợi, một người cho tôi bờ vai để tôi nương tựa và cho tôi những lời khyên mỗi khi tôi cần quyết định một vấn đề gì. Và hơn hết người đó giờ đây ở trên kia vẫn luôn dõi theo từng bước tôi đi. Tôi chỉ có thể gặp người trong giấc mơ và trong lời cầu nguyện. Cha tôi luôn là người số một trong trái tim tôi kể cả lúc ông còn sống cũng như giờ đây ông đã rời xa tôi mãi mãi.

 Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng sâu vùng xa của Tỉnh Kon Tum, một nơi được gọi là xã Anh Hùng, thuộc khu căn cứ của cách mạng, là nơi đặc biệt được gọi là “vùng trắng”. Đức Cha đã trao cho cha tôi một trách nhiệm rất khó khăn là thay mặt các chủ chăn để dẫn dắt đời sống đức tin của bà con giáo dân ở đó, với một tên gọi là chú Yao Phu (ông câu). Vì vâng lời Đức Cha, cũng vì muốn noi gương bắt chước Chúa Giêsu, cha tôi đã bao lần bị sỉ nhục, bị hành hạ. Cha tôi đã  nhiều lần bị bắt giam, bắt nhịn ăn mấy ngày, bị đưa cha ra trước đám đông, trước bà con giáo dân và cảnh cáo rằng: nếu không bỏ đạo thì sẽ bắn chết… nhưng vì lòng cương quyết của cha cũng như của bà con giáo dân… mọi việc tạm lắng xuống!

 Cuộc sống của mọi người trong giai đoạn đó thật là đói khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Đức tin của người dân làng phải đối diện với nhiều thử thách bởi không linh mục, không  thánh lễ, chỉ có phụng vụ lời Chúa và lòng đạo đức bình dân. Trong suốt mấy chục năm, cha tôi đã hy sinh vượt qua những con đường trắc trở hơn ba mươi cây số với một phương tiện thô sơ là chiếc xe đạp, để có thể rước Mình Thánh Chúa từ Giáo Xứ chính về cho dân làng. Ôi còn biết bao là gian khổ không thể nào kể xiết! về phần đạo đã thế, nhưng cha còn phải gánh thêm gia đình, chăm lo cho các con ăn học để có thể trở nên những con người tốt của giáo hội cũng như có ích cho xã hội, nên cha đã không quản ngại mọi khó khăn, gian khổ. Gia đình tôi không khá giả như bao gia đình khác, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền của cha mẹ kiếm được nhờ những lao động vất vả hằng ngày. Dẫu vậy, tôi luôn cảm thấy thật đầy đủ, được đầm ấm và hạnh phúc bởi nơi đó luôn có sự hiện diện của Chúa và là nơi chứa chan tình yêu thương của gia đình.

 Công việc của cha tôi làm cho tôi nhận ra tình yêu thương và chương trình của Thiên Chúa khi Ngài muốn ở với bản làng chúng tôi. Nhìn cha vất vả nhưng luôn hăng say và chưa một lần cha muốn thoái lui hay bỏ cuộc. Công việc của cha chính là khởi đầu cho ơn gọi dâng hiến của tôi. Tôi cũng muốn bắt chước cha để tập hy  sinh cho người khác, tập dấn thân cho người nghèo nhất là những người dân tộc thiểu số của chúng tôi. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người cha giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.

 Thời gian cứ thế trôi qua mà chẳng cần hỏi ý kiến chúng ta, cha tôi ngày càng thêm tuổi, nên sức lực cũng yếu dần, mọi bệnh tật xảy đến, nhưng cha luôn nói rằng cha sẽ luôn chiến đấu, chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng vì hạnh phúc của gia đình. Phải chăng vì những khắc nghiệt của cuộc sống, thiếu thốn những thứ căn bản nhất, vì quá nhiều lo toan cha phải gánh vác mà giờ đây sức khoẻ cha xuống dốc cách trầm trọng.  Thay vào những cánh tay cuồn cuộn cơ bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo, đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm và hai gò má cao cao lại càng tô đậm hơn trên khuôn mặt của cha vì những vất vả của cuôc sống. Dầu vậy, chưa bao giờ tôi nghe một lời than van, trách móc của cha. Tôi giật mình khi nhìn lén cha trong một dịp về qua nhà, cha dấu không cho tôi biết những điều cha đang phải chiến đấu từng giờ từng phút. Cha chưa bao giờ muốn tôi vì lo lắng mà xao lãng việc nhà dòng. Cha tôi là thế đó, luôn nghĩ và sống cho người khác. Trong gia đình, cha là một người thầy thường nhắc nhở và dạy dỗ chúng tôi cách sống của một người Kitô hữu trong bổn phận là con Chúa. Cha luôn quan tâm đến những giờ kinh chung của gia đình. Không những thế, trong đời sống nhân bản và trong cách làm người sao cho phải đạo. Tôi khâm phục không chỉ bởi cha là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của cha dẫu bệnh tật luôn hoành hành.

 Sau một thời gian dài, tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi nghe tin ngôi nhà nguyện của chúng tôi sẽ được trở thành Giáo Xứ và sẽ có cha xứ đến để lo công việc mục vụ và đời sống đức tin cho buôn làng. Cha tôi sẽ được nghỉ ngơi và không còn vất vả như xưa nữa. Tôi vui mừng tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã cất gánh nặng trên vai cha tôi. Niềm vui tôi chưa kịp chia sẻ, lời chúc mừng tôi chưa có dịp để thốt ra thì…  Tôi nhận được một tin như sét đánh bên tai. “Lấu ơi, Cha mất rồi.” Tôi không muốn tin và tôi không muốn chấp nhận điều đó. Tại sao Chúa gọi Cha về lúc này, cha đã bỏ dân làng, bỏ anh chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để đi về với Chúa. Nhiều và rất nhiều câu hỏi tại sao vang lên trong đầu tôi giờ này.  Tôi và gia đình đã không dễ dàng đón nhận biến cố này, tôi đã đau đớn và trách Chúa “tại sao Ngài lại đưa cha tôi đi?. Trong trái tim tôi bây giờ không phải chỉ có nỗi đau mất cha, mất một người anh, một người bạn, một người đồng hành, nhưng tôi còn phải đối diện với “Người Bạn” kỳ lạ là Thiên Chúa. Tôi không thể nào hiểu được Chúa muốn gì, phải chăng “Bạn” của Cha tôi đang chơi không đẹp khi Ngài cất cha tôi đi giờ này?

 Thế là mãi mãi cha ơi

Con đây phải chịu cảnh đời mồ côi

Tự lo bươn trải cuộc đời

Gặp khi khó khổ chẳng nơi tỏ bày. (Phú Quang) 

 Tôi đã khóc và đã cố gắng rất nhiều để vượt qua biến cố này. Thời gian quả là thuốc tốt cho mọi mất mát và tổn thương, rồi tôi cũng chấp nhận được việc thiếu vắng bóng cha trong cuộc đời. Tôi bình an hơn khi nhận lấy sự mất mát này như là một hồng ân Chúa dành cho “hiền thê” của Ngài. Những gì Cha tôi đã gieo giờ cũng tới ngày được gặt, những hy sinh cố gắng của Cha tôi đổi lấy những sự thánh thiện đạo đức của những người dân trong làng. Tiếp bước của Cha có các Yao Phu trẻ dấn thân cho công việc truyền giáo mà Cha tôi đã thi hành không chút mệt mỏi. Phải chăng sự nhiệt thành của Cha đã làm lan toả nơi người trẻ trong làng sự hăng say tận tuỵ. Em trai tôi và các cháu tôi rồi cũng chọn con đường trở thành một Yao Phu để đem Chúa đến cho buôn làng.

 Tôi hạnh phúc nhìn sự lớn lên của Giáo Xứ, lớn lên cả về lòng đạo đức và ý thức. Cha tôi đã âm thầm, đã trồng đã tưới, trong cuộc sống lắm lúc chúng ta gặt những gì chúng ta không gieo nhưng cũng có những lúc chúng ta vất vả gieo trồng, hy vọng nhưng rồi chẳng được gặt. Đứng trước những điều đó người không có đức tin sẽ cho rằng đó là sự trớ trêu của cuộc sống, nhưng đối với tôi, tôi tin tất cả mọi sự đều là thánh ý Chúa. Thánh ý của Ngài khi tôi biết đón nhận tim tôi sẽ luôn rạng ngời và sẽ cất mãi bài cả cảm tạ.

 Cũng sắp đến ngày tròn hai năm cha tôi về với Chúa, phải chăng Chúa Quan Phòng đã ưu ái cho tôi viết lên những lời này qua đề tài của frère. Tôi nhớ về cha rất nhiều nhưng chưa bao giờ tôi đủ can đảm để viết về những điều liên quan đến cha. Hôm nay tôi viết mặc dù cha tôi không thể đọc nhưng chắc chắn một điều, ở một nơi nào đó cha đang mỉm cười nhìn tôi và cha cũng tự hào về đứa con gái này của cha. Tôi sẽ sống thật tốt và cũng sẽ nhiệt thành vì Đức Kitô theo gương của cha. Những gì cha đã làm, đã trở thành nguồn cảm hứng cho bao người. Qua những gì cha làm cho gia đình và cho buôn làng, tôi đã nhận thấy sự hiện diện đầy yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa. Như mẹ thánh Tê-rê-xa Cacuta đã nói: “Tôi chỉ là cây bút chì trong tay của Chúa.” Tôi cũng muốn bắt chước Cha để thành cây bút chì trong tay của Chúa, Ngài sẽ viết, sẽ vẽ hay sẽ xoá những gì Ngài muốn nhưng đó là Thánh Ý của Ngài. Cha tôi đã vâng lời và phục vụ tới giây cuối cùng tôi cũng nguyện sống như Cha.

Cha ơi! Con nhớ Cha.

 

Nữ tu Marie Donatien Y Lấu

Học viện Hiển Linh - TD Tây Nguyên

Write comment (0 Comments)